Phong trào giáo dân
Giáo hội Hoàn vũ

Vấn đề Hội Nhập Văn Hóa trong công cuộc Phúc Âm hóa (phần 1)

26/02/2025 11:15(Lượt xem: 283)

Vấn đề Hội Nhập Văn Hóa trong công cuộc Phúc Âm hóa (phần 1)

Vấn đề Hội Nhập Văn Hóa
trong công cuộc Phúc Âm hóa các Dân tộc

(phần 1)

Những mục chính
I. Để phúc âm hóa có hiệu quả
II. Thích ứng Là Gì?
III. Hội Nhập Văn Hóa Là Gì?
IV. Mầu Nhiệm Nhập Thể Và Hội Nhập Văn Hóa
V. Giúp Người Nghe Hiểu Bằng Chính Ngôn Ngữ Của Họ, Theo Văn Hóa Của Họ
VI. Cần Phân Biệt Nội Dung Sứ Điệp Với Cách Thức Diễn Tả Sứ Điệp

 

I. Để phúc âm hóa có hiệu quả
Bất kỳ người Kitô hữu nào cũng có sứ mạng phúc âm hóa. Sứ mạng đó bắt nguồn từ bí tích Thánh Tẩy khiến ta trở nên con cái Thiên Chúa và được chia sẻ với Chúa Kitô thiên chức vua, tư tế và ngôn sứ [*]. Chia sẻ những thiên chức ấy, người Kitô hữu cũng chia sẻ với Chúa Kitô sứ mạng loan báo Tin Mừng, «làm cho muôn dân trở nên môn đệ Chúa», đồng thời «dạy bảo họ tuân giữ những điều Chúa truyền» cho mình (x. Mt 28:19-20.). Sứ mạng đó lại càng trở nên rõ rệt và chính thức hơn khi chúng ta lãnh nhận bí tích Thêm Sức, Thánh Thể, nhất là với những người đã lãnh nhận bí tích Truyền Chức, và những người đã tận hiến đời mình cho việc mở mang Nước Chúa.
[*1] Tức 3 chức năng: làm chủ, làm lễ và làm chứng.
  1. ● Làm chủ: làm chủ bản thân (lý trí, tình cảm, cảm xúc, bản năng, các dục vọng, các khuynh hướng…), làm chủ tập thể (gia đình, xã hội, Giáo Hội), làm chủ ngoại cảnh (thiên nhiên, môi trường).
  2. ● Làm lễ: dâng bản thân, dâng ý riêng, dâng mọi công việc của đời thường lên Thiên Chúa như một lễ vật, cùng với Chúa Giêsu, để thờ phượng Thiên Chúa và để thánh hóa bản thân và mọi công việc của mình.
  3. Làm chứng: làm chứng cho Thiên Chúa, cho Chúa Giêsu-Kitô, cho chân lý (luôn luôn thành thật, nói sự thật), cho công lý (sống công bình và đòi hỏi công bình trong xã hội, chống bất công áp bức), giúp mọi người nên tốt lành thánh thiện hơn, để xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn.
Có sứ mạng loan báo Tin Mừng, ta phải loan báo Tin Mừng sao cho có hiệu quả, nghĩa là phải loan báo Tin Mừng một cách có kế hoạch, có phương pháp và nghệ thuật. Muốn thế, một trong những vấn đề quan trọng nhất phải làm là mềm dẻo và khéo léo thích ứng cách rao truyền sứ điệp Kitô giáo với đối tượng và hoàn cảnh, đồng thời hội nhập sứ điệp Kitô giáo vào môi trường văn hóa của từng dân tộc mà mình muốn phúc âm hóa. Giữa thích ứng và hội nhập văn hóa có nhiều điểm giống nhau, nhưng cũng có những khác biệt căn bản.
 
II. Thích ứng Là Gì?
1. Định nghĩa
Thích ứng là ứng biến cho thích hợp:
– ứng biến là thay đổi (=biến) cách đối phó (=ứng) khi sự việc xảy ra,
– thích hợp là vừa khít (=thích), tương xứng, phù hợp (=hợp) với sự việc hay tình huống xảy ra.
Thích ứng là tùy theo từng tình huống cá biệt mà thay đổi cách ứng xử cho phù hợp từng tình huống một. Thích ứng có nghĩa tổng quát hơn hội nhập văn hóa.
Trong công cuộc phúc âm hóa, thích ứng là rao giảng sứ điệp Kitô giáo sao cho phù hợp với từng trường hợp, từng hoàn cảnh cụ thể của mỗi dân tộc, của mỗi xứ đạo, hay của mỗi cá nhân. Nghĩa là phải thay đổi phương thức phúc âm hóa, cách thức rao giảng, cách ứng xử, cách diễn tả sứ điệp... sao cho phù hợp với từng tình huống cụ thể của người nghe, để việc phúc âm hóa đi đến kết quả tốt đẹp. Hay nói cách khác là phải «tùy cơ ứng biến», «tùy duyên hóa độ» [*].
[*] «Tùy cơ ứng biến»: tùy từng trường hợp mà biến đổi cách tương ứùng; «tùy duyên hóa độ»: tùy theo hoàn cảnh, tình huống, trình độ và khuynh hướng riêng của mỗi người mà thay đổi cách giáo hóa cho phù hợp với từng người.
Để làm sáng tỏ vấn đề, ta thử đưa ra một vài hình ảnh minh họa.
 
2. Một vài minh họa về thích ứng
a) Thầy thuốc tùy bệnh cho toa
Việc thích ứng cũng giống như việc thầy thuốc tùy bệnh cho toa. Y lý chỉ có một và bất biến, nhưng bệnh thì nhiều vô kể, mỗi bệnh mỗi khác, không bệnh nào giống bệnh nào. Khi y lý được áp dụng vào từng cơn bệnh, nó sẽ biến thành rất nhiều phương thức trị liệu hay toa thuốc khác nhau, mỗi bệnh một toa. Bệnh giống nhau, thuốc mới giống nhau. Bệnh khác nhau, thuốc sẽ khác nhau. Thầy thuốc càng giỏi, nghĩa là càng nắm vững y lý, thì càng biết gia giảm các vị thuốc trong cùng một bài thuốc để trị những bệnh nhân tuy cùng một chứng bệnh nhưng lại hơi khác nhau về một số chi tiết nhỏ nhặt nào đó. Có biết gia giảm như thế, việc chữa trị mới nhanh chóng và hữu hiệu. Chỉ những thầy thuốc dở mới áp dụng cùng một toa thuốc như nhau cho những con bệnh khác nhau. Những thầy thuốc loại này là những người không nắm vững được y lý, nên không biết cách áp dụng y lý đó trong những trường hợp cá biệt khác nhau của bệnh tật.
Cũng vậy, người rao giảng chân lý phải nắm vững chân lý mình rao giảng, và hễ nắm vững chân lý mình rao giảng thì cũng sẽ biết thay đổi cách trình bày chân lý ấy tùy theo trình độ tâm linh, trí tuệ, não trạng, tính tình của người nghe để họ cũng nắm vững chân lý và thật sự áp dụng chân lý ấy vào đời sống của họ. Không biết phải thay đổi cách trình bày chân lý thế nào cho phù hợp với từng đối tượng, điều đó chứng tỏ rằng người rao giảng chưa nắm vững được chân lý mình rao giảng. Một khi đã nắm vững được chân lý trong vấn đề mình nói, thì tuy trình bày cùng một vấn đề, nhưng khi trình bày cho một nông dân, cách thức trình bày hay hình thức diễn tả ắt phải khác với cách trình bày cho một bác sĩ. Có nắm vững chân lý thì mới có khả năng trình bày cách thích ứng như thế cho các đối tượng khác nhau.
 
b) Dòng điện thay đổi tùy theo dụng cụ điện
Sự thích ứng cũng tương tự như sự thay đổi của dòng điện: cùng một dòng điện nhưng tùy theo công suất tiêu thụ của mỗi dụng cụ mà cường độ dòng điện thay đổi để thích ứng với dụng cụ, làm phát sinh những công năng khác nhau, hầu cung ứng đủ năng lực để dụng cụ hoạt động mà không vượt quá sức chịu đựng của dụng cụ. Cùng một dòng điện 220 volt, khi vào một dụng cụ 100 watt, thì cường độ dòng điện là 0,45 ampère, nhưng khi vào dụng cụ 1000 watt, thì cường độ tăng lên 10 lần thành 4,54 ampère [*]. Nếu không có sự thích ứng đó, dòng điện sẽ làm hư hỏng dụng cụ điện hoặc không đủ năng lực cần thiết để đáp ứng nhu cầu người sử dụng.         
[*] Theo công thức P = VI (P = công suất, V = hiệu thế, I = cường độ);  I = P/V.
Ngoài ra, khi đi vào những dụng cụ điện, dòng điện còn biến đổi thành những hình thái khác nhau của năng lượng. Khi vào bóng đèn, điện biến thành ánh sáng, vào quạt máy thì thành gió, vào bếp điện thì thành hơi nóng, vào tủ lạnh thì thành hơi lạnh... Thật là trái tự nhiên khi dòng điện đi vào những môi trường tiêu thụ khác nhau mà lại sinh ra cùng một công năng hay cùng một hình thái năng lượng như nhau.
 
c) Cây nào sinh trái nấy
Tương tự như thế, cùng mọc trên một thửa đất như nhau, nhưng cây nào sinh trái đó. Cây khác nhau thì không thể vì cùng mọc trên một thửa đất mà sinh ra cùng một loại trái được. Cây cam sinh trái cam, cây chanh sinh trái chanh thì cả hai cây đều hoạt động đúng với luật tự nhiên. Nhưng nếu cả hai cây đều sinh ra cùng một thứ trái thì đó quả là chuyện lạ thường, nghịch tự nhiên. Mà một trong những nguyên tắc căn bản của Kitô giáo là hành động theo luật tự nhiên, không chấp nhận những gì phản tự nhiên.
Như vậy, cùng suy tư và khai triển mặc khải duy nhất của Đức Kitô, thì người Á châu với vũ trụ quan động, nhận thức luận đa diện và nhất nguyên không thể có cùng một cách diễn tả chân lý, cùng một lối suy tư thần học như người Âu Châu với vũ trụ quan tĩnh, nhận thức luận đơn diện và nhị nguyên được. Ép buộc người Á châu khi suy tư thần học cũng phải đi đến cùng một kết luận thần học y như những kết luận thần học đã có trước của người Âu Châu thì chẳng khác nào ép cây cam phải ra cùng một loại trái như cây chanh. Như vậy, có tự nhiên và hợp lý không khi mà cái nào ra trước thì được tự do ra theo điều kiện riêng và bản chất nội tại của mình, còn cái nào ra sau thì phải ép mình mà ra giống như cái đã ra trước – vốn đã được chính thức hóa làm khuôn mẫu để duy trì sự thống nhất cho toàn thể – bất chấp việc phải đi trái với bản chất nội tại và những điều kiện riêng của mình?
 
3. Thích ứng để tồn tại và phát triển
Thích ứng là một điều kiện quan trọng để tồn tại, phát triển, và thành công. Phàm tất cả mọi sinh vật trên thế giới này, sinh vật nào biết thích ứng với hoàn cảnh xung quanh mình, thì dù có mỏng dòn yếu ớt vẫn có thể tồn tại và phát triển. Còn sinh vật nào không biết thích ứng, thì dù có mạnh mẽ hay vững chắc tới đâu, cũng sẽ không phát triển được nếu không muốn nói là bị tiêu diệt [*].
[*] Những con khủng long là những động vật to lớn và mạnh mẽ nhất, nhưng lại không tồn tại và phát triển được nòi giống của mình một cách lâu dài, còn những con kỳ nhông nhỏ bé và yếu ớt lại tồn tại qua thời gian. Vì khủng long đã không thích ứng được với môi trường chung quanh (thời tiết, sinh thái, thực phẩm…), còn kỳ nhông tự biến đổi mình phù hợp với môi trường, với điều kiện sinh sống của mình.
Đối với các tôn giáo cũng thế, hễ biết thích ứng với hoàn cảnh chung quanh, với những tình huống luôn luôn thay đổi, thì sẽ tồn tại và phát triển. Không chịu thích ứng thì sẽ bị luật đào thải loại trừ. Cũng thế, việc phúc âm hóa nếu muốn thành công thì phải thích ứng với đối tượng, với môi trường, với hoàn cảnh, thời thế... Trong việc phúc âm hóa, sự thích ứng đó là «tùy duyên hóa độ», là hội nhập văn hóa.
 
III. Hội Nhập Văn Hóa Là Gì?
1. Định nghĩa
Hội nhập văn hóa sứ điệp Kitô giáo là đưa sứ điệp Kitô giáo vào trong nền văn hóa của dân tộc bằng cách diễn tả sứ điệp Kitô giáo một cách thích ứng với nền văn hóa đó, đồng thời hoàn chỉnh nền văn hóa đó theo tinh thần Kitô giáo. Như vậy hội nhập văn hóa là một cuộc hội thoại giữa đức tin và văn hóa, nó có hai chiều:
1. Một đằng là thích ứng sứ điệp Kitô giáo với văn hóa của dân tộc lãnh nhận sứ điệp, vận dụng những yếu tố phù hợp với tinh thần Kitô giáo trong văn hóa của dân tộc ấy để diễn tả sứ điệp, hầu đưa sứ điệp vào lòng dân tộc ấy một cách thuận lợi và dễ dàng. Chẳng hạn khi diễn tả sứ điệp Kitô giáo cho người Việt Nam, ta nên dùng những ý niệm, hình ảnh, câu nói quen thuộc đối với người Việt như ca dao tục ngữ, hay những quan niệm triết lý Đông Phương để giải thích, truyền đạt. Không nên lạm dụng triết lý Tây Phương hay những hình ảnh tuy quen thuộc với người Tây Phương, nhưng lại rất xa lạ với người Việt để diễn đạt sứ điệp. Nhờ sự thích ứng đó, Kitô giáo trở nên dễ hiểu, thân thuộc và dễ chấp nhận với người Việt. Nếu không, Kitô giáo sẽ trở thành xa lạ, ngoại lai, khó hiểu và khó chấp nhận.
2. Đằng khác hội nhập văn hóa còn là biến đổi nền văn hóa đó, làm cho nền văn hóa đó hoàn thiện hơn. Nói khác đi là làm cho nền văn hóa ấy mang nhiều tinh thần Tin Mừng hơn. Đây chính là mục đích phải đạt được của việc hội nhập văn hóa: đó là phúc âm hóa nền văn hóa đó, tức làm cho sứ điệp Tin Mừng ảnh hưởng trên quan niệm, cách suy nghĩ, cách hành xử của dân chúng, làm cho tinh thần Chúa Kitô thấm nhuần vào lòng dân tộc ấy. Nếu sự thích ứng trên mà không nhằm mục đích này, hay không đạt được mục đích này, thì đó không phải là hội nhập văn hóa đúng nghĩa. Đó mới chỉ là hội nhập văn hóa nửa vời, hời hợt.
Như vậy, hội nhập văn hóa – có nghĩa hẹp hơn thích ứng – là thích ứng về mặt văn hóa khi đem một sứ điệp tôn giáo đến với một dân tộc nào đó. Nhiều trường hợp thích ứng chỉ là thích ứng mà không phải là hội nhập văn hóa. Nhưng mọi trường hợp hội nhập văn hóa đều có tính thích ứng.
Trong việc loan báo Tin Mừng, hội nhập văn hóa sứ điệp Kitô giáo là rao giảng sứ điệp đó một cách thích ứng với nền văn hóa hay những yếu tố văn hóa của từng dân tộc để có thể phúc âm hóa nền văn hóa đó, làm cho nền văn hóa đó thấm nhuần tinh thần Tin Mừng. Như vậy, hội nhập văn hóa không phải chỉ theo một chiều là thích ứng cách diễn tả sứ điệp với nền văn hóa của dân tộc, mà còn theo chiều ngược lại là nhờ sự thích ứng đó mà sứ điệp Kitô giáo mới dễ dàng thấm sâu vào nền văn hóa ấy, biến đổi nền văn hóa ấy trở nên tốt hơn, thuận lợi cho việc mở mang Nước Chúa hơn. Chiều thứ nhất là phương tiện, chiều thứ hai là mục đích phải đạt được. Nếu hội nhập văn hóa mà không nhắm phúc âm hóa các nền văn hóa, thì chưa phải là hội nhập văn hóa đúng nghĩa.
 
2. Vài thí dụ và phản thí dụ về hội nhập văn hóa
a) Tượng Chúa Giêsu da đen
Một trong những cách cụ thể để hội nhập văn hóa tại Phi châu là: hình Chúa Giêsu và Đức Mẹ đều là da đen. Điều đó quả là trái ngược với sự thật lịch sử, vì Chúa Giêsu và Đức Maria là người Do Thái da trắng chứ đâu phải là người Phi châu da đen. Nhưng điều trái với sự thật lịch sử ấy lại đúng với «chân lý» (lý lẽ chân thật) vì nó diễn tả đúng tinh thần nhập thể và cứu độ của Thiên Chúa: Thiên Chúa muốn chia sẻ thân phận của nhân loại qua con người Đức Giêsu Kitô, nên nếu Ngài muốn chia sẻ thân phận với người Phi châu nghèo nàn đau khổ thì Ngài phải là người da đen.
Vả lại, đối với người Phi châu, thì người da trắng là kẻ thù, là người bóc lột và đặt ách nô lệ lên đầu lên cổ họ. Vì thế, da trắng hay mầu trắng tượng trưng cho những gì xấu xa nhất, đến nỗi tại châu Phi có những thành ngữ như: xấu như da trắng, hay đểu như da trắng. Mà Đức Giêsu và Đức Mẹ lại tượng trưng cho những gì cao cả nhất, tốt đẹp nhất, nếu các Ngài được tạc tượng là người da trắng thì quả là trớ trêu, khó chấp nhận đối với họ. Trong bối cảnh đó, tạc tượng các Ngài là da đen chính là hội nhập văn hóa.
 
b) Tượng Chúa bị cùi
Một thí dụ khác tương tự: Một vị giám mục tới thăm một trại cùi. Ngài cảm thấy bị xúc phạm rất mạnh khi thấy Chúa Giêsu, Đấng mà mình tôn thờ, lại bị tạc tượng thành một người cùi: cùi chân cùi tay, lở miệng sứt tai trông rất gớm ghiếc. Vị giám mục quyết tâm điều tra cho bằng được xem ai là tác giả sự sỉ nhục ghê gớm ấy. Cuối cùng, một thầy dòng già – phục vụ trong trại cùi lâu năm và cuối cùng đã bị lây bệnh – tự thú mình là tác giả. Thầy thưa với Đức Cha: «Con không biết phải làm thế nào để diễn tả tình thương yêu tột cùng của Chúa Giêsu đối với những người đau khổ đến tận cùng, cả thể xác lẫn tinh thần, như những người cùi trong trại này, hơn là cho họ thấy Ngài cũng chia sẻ thân phận bị cùi như họ, thậm chí hơn họ nữa: đã bị cùi mà còn chịu đóng đinh nhục nhã để cứu họ».... Vị giám mục hiểu ra và công nhận thầy già có lý. Tạc tượng như thế, chính là thích ứng, là hội nhập văn hóa, là «tùy duyên hóa độ».
 
c) Phản thí dụ: Ở xứ nóng mà mặc đồ dày
Một số dòng tu được thành lập ở Âu Châu là nơi khí hậu tương đối rất lạnh so với Việt Nam hay Phi châu. Vì thế, y phục của các dòng tu này phải nhiều và dày để thích ứng với khí hậu lạnh đó. Vì tai là phần dễ nhiễm lạnh nhất trên đầu, nên họ thường che kín cả hai tai. Và người sáng lập dòng thường gán cho mỗi thứ áo mặc vào một ý nghĩa tương ứng với những tôn chỉ hay các nhân đức căn bản của linh hạnh dòng. Đó là một cách nhắc nhở tuyệt vời.
Nhưng khi tới hoạt động ở các xứ nóng vùng nhiệt đới, tu sĩ các dòng đó vẫn mặc đầy đủ các thứ quần áo đó y như khi sống và hoạt động ở những xứ lạnh. Y phục vừa nhiều vừa dài rộng như thế, đôi khi trắng toát từ đầu đến chân, làm sao phù hợp được với khung cảnh của đám dân nghèo mà họ phục vụ, không có đủ vải để che thân? Bộ quần áo trắng toát làm sao phù hợp được với màu da đen của dân Phi châu, và với não trạng không ưa mầu trắng của họ? Và bộ quần áo tu sĩ đó quả là khác thường, lập dị so với cách ăn mặc của người dân bản xứ.
Thế nhưng nhiều dòng tu vẫn luôn luôn coi là quan trọng việc giữ cho đúng bản sắc riêng của dòng mình, không muốn bị lẫn lộn với dòng khác, và coi việc hòa đồng với dân chúng địa phương chỉ là thứ yếu.
 
d) Phản thí dụ: Thánh Phaolô nói về sự sống lại ở Hy Lạp
Sự thất bại của thánh Phaolô khi rao giảng ở Hy Lạp, trước pháp viện Athen (Arêôpagô) có thể là một bài học cho ta về hội nhập văn hóa (Xem Cv 17,16-34). Người Hy Lạp tại Athen đã yêu cầu Phaolô rao giảng và họ đã lắng tai nghe. Họ đã để cho Phaolô nói một đoạn dài mà chắc hẳn họ cũng cảm thấy hấp dẫn vì nó lạ tai, và không có gì ngược với triết lý của họ. Nhưng khi ngài nói về việc Đức Kitô sống lại thì họ bỏ đi không thèm nghe nữa, vì điều đó đi ngược hẳn lại quan niệm triết lý của họ: họ vốn xác tín rằng thân xác là tù ngục của linh hồn, nên chết là giải thoát cho linh hồn, thì thân xác sống lại để làm gì? Sự sống lại đối với người Do Thái là việc dễ hiểu, dễ chấp nhận, nhưng đối với người Hy Lạp là chuyện khó hiểu và rất khó chấp nhận. Họ cần phải được chuẩn bị để thay đổi quan niệm cũ trước khi nghe sự thật khó chấp nhận ấy.
 
3. Cần phải chuẩn bị người nghe
a) Chuẩn bị tiệm tiến
Trong những lần gặp gỡ đầu, thiết tưởng thánh Phaolô chưa nên đề cập đến những vấn đề căn bản của Kitô giáo mà do sự khác biệt về văn hóa, người Hy Lạp chưa thể chấp nhận được. Trước khi đề cập đến những vấn đề khó chấp nhận ấy, cần phải chuẩn bị cho họ để họ đón nhận dễ dàng hơn, có thể phải mất một thời gian khá lâu. Đâu phải người Hy Lạp không thể đón nhận ý tưởng người chết sống lại. Họ không đón nhận chỉ vì lúc đó họ chưa được chuẩn bị tư tưởng để đón nhận. Vì như chúng ta thấy hiện nay, đa số người Hy Lạp đã trở thành Kitô hữu, nghĩa là họ đã chấp nhận và tin điều ấy.
Trong nghệ thuật đắc nhân tâm, các nhà viết sách đều khuyên ta nên làm cho người nghe gật đầu đồng ý với ta ngay từ đầu, và phải khôn khéo làm cho họ tiếp tục gật đầu cho tới khi họ hoàn toàn đồng ý với ta. Phải đi từ những điều dễ đồng ý nhất, rồi từ từ chuyển đến những điều khó đồng ý hơn, cứ thế cho đến những điều khó đồng ý nhất, không nên có sự đột ngột thiếu chuẩn bị. Việc phúc âm hóa đòi hỏi kết quả lâu dài và vững bền, không phải là việc có thể làm gấp rút thiếu chuẩn bị. Bao lâu người nghe còn đồng ý với ta thì ta còn cơ hội để rao giảng cho họ. Nếu họ bất đồng ý với ta từ ban đầu, họ sẽ không thèm nghe ta nữa, và ta không thể tiếp tục rao giảng cho họ: như thế là ta đã đánh mất họ ngay từ đầu.
Thật ra, người ta có thể chấp nhận những điều khó chấp nhận nhất, miễn là họ được chuẩn bị một cách tiệm tiến và có phương pháp. Rất nhiều trường hợp người ta không chấp nhận được là do sự khác biệt về văn hóa. Chẳng hạn nhiều người Kitô hữu khi nghe nói tới chuyện ngày tốt ngày xấu, hay thuyết luân hồi... là gạt đi ngay, không chấp nhận được. Cũng như nhiều người Phật tử nghe nói tới hình phạt hỏa ngục đời đời [*] hay chuyện đền tội thay cho người khác thì cho ngay là chuyện phi lý không thể chấp nhận và không thèm nghe tiếp. Nhưng có biết bao người mới đầu không chấp nhận được một điều gì đó, thế mà về sau lại cảm thấy điều không thể chấp nhận ấy cũng có lý để rồi cuối cùng chấp nhận.
[*] Theo quan niệm của đạo Phật, ngoại trừ Chân Như Phật tính là cái duy nhất thường hằng bất biến, thì tất cả mọi sự đều là vô thường, không có gì tồn tại vĩnh viễn. Vả lại, không có một tội nào – dù to tát đến đâu – do con người hữu hạn gây nên mà lại mang tính vô hạn đến nỗi phải chịu một hình phạt vô hạn cả.
 
b) Thích ứng hai chiều
Nếu có điểm nào trong sứ điệp mà người nghe chưa thể chấp nhận được, thì ta chưa nên nói tới điểm đó vội. Nhưng ta nên dành một thời gian để chuẩn bị cho họ đón nhận điểm đó dễ dàng hơn. Không nên đốt giai đoạn: «Dục tốc bất đạt». Nghĩa là khi không thể thích ứùng cách diễn tả sứ điệp với người nghe, thì ta phải tìm cách giúp người nghe thích ứng với cách diễn tả sứ điệp ấy. Sự thích ứng cần phải được hiểu theo hai chiều như thế mới thích đáng: vừa thích ứng cách diễn tả sứ điệp với người nghe, vừa giúp người nghe thích ứng với cách diễn tả sứ điệp. Điều quan trọng là làm sao cho sứ điệp Kitô giáo được đón nhận một cách vui vẻ, tự nguyện, do người nghe giác ngộ được chân lý, chứ không phải chấp nhận một cách miễn cưỡng, chấp nhận mà chưa thấy được sự khả tín của nó.
 
4. Văn hóa đa dạng của các dân tộc
Do những điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội, sinh thái... khác nhau, mỗi dân tộc có một nề nếp sinh sống riêng biệt, với những phong tục tập quán, não trạng, quan niệm về sự vật, lề lối tư tưởng khác biệt nhau. Những yếu tố khác nhau ấy tạo nên những nền văn hóa khác nhau, khiến mỗi dân tộc có một nền văn hóa riêng. Chẳng hạn, tuy Việt Nam và Căm-pu-chia là hai nước ráp ranh nhau, nhưng văn hóa của hai dân tộc khác hẳn nhau: ngôn ngữ, phong tục, tập quán, y phục, đồ ăn uống, kiến trúc nhà cửa, nghệ thuật... đều khác nhau. Có những điều rất dễ hiểu, dễ chấp nhận nơi dân tộc này, lại là những điều rất khó hiểu và khó chấp nhận nơi dân tộc kia. Quan niệm và lề lối suy tư giữa hai nền văn hóa có thể khác biệt đến độ «bên này dãy núi Pyrénée là chân lý thì bên kia là sai lầm» (Ngạn ngữ Pháp).
Chẳng hạn, những thế kỷ trước, đang khi tại châu Âu người ta cho rằng tự tử dưới bất cứ hình thức nào đều không nên, thậm chí là một tội nặng tương đương với giết người, thì tại Nhật Bản, việc tự tử để tự đền tội mình – hay «samurai» – trong những trường hợp phạm lỗi nặng là một điều đáng khuyến khích, biểu lộ nhân cách và lòng tự trọng của mình. Ai không dám tự xử trong những trường hợp đó thì bị coi là hèn nhát, đáng khinh. Hay hiện nay, đang khi tại một vài vùng ở Á châu, việc ăn thịt chó hay mèo cũng tương tự như ăn thịt bất cứ thú vật nào khác, thì tại các nước Âu Mỹ đó là một điều ghê tởm không thể chấp nhận được, thậm chí có nơi có thể bị đưa ra tòa án và bị kết án tù mấy tháng. Vì thế, một người tới loan báo Tin Mừng tại một vùng nào, không thể cứ hành xử theo quan niệm văn hóa của dân tộc mình mà được người khác đồng ý và nể phục.
Do đó, khi rao giảng một sứ điệp tôn giáo cho một dân tộc, ta phải lưu tâm và thích nghi với những khác biệt về văn hóa của dân tộc ấy, đồng thời thay đổi cách thức diễn tả sứ điệp tôn giáo sao cho phù hợp với não trạng, lề lối suy tư cũng như quan niệm của từng dân tộc, nghĩa là phù hợp với những yếu tố văn hóa của dân tộc ấy, thì người nghe dễ chấp nhận sứ điệp ta rao giảng.
 
5. Để làm người khác biến đổi...
a) Muốn biến đổi ngoại cảnh, phải biến đổi mình trước
Sứ điệp Kitô giáo chỉ có một và luôn luôn phải giữ nguyên vẹn, không được biến đổi, nhưng cách diễn tả hay trình bày sứ điệp ấy phải thay đổi tùy theo điều kiện văn hóa, xã hội, kinh tế, chính trị... của đối tượng phúc âm hóa. Nhờ sự thích ứng ấy người nghe mới lãnh hội được sứ điệp ta muốn trình bày, đồng thời mới chịu thay đổi đời sống, cách quan niệm, suy nghĩ, nói năng và hành động của họ. Như vậy, chính ta phải thay đổi để thích ứng với đối tượng trước, sau đó đối tượng mới có thể thay đổi như lòng ta mong ước.
Trong quá trình biến đổi và làm chủ thiên nhiên, trước tiên con người tìm hiểu luật của thiên nhiên, sau đó tuân theo luật đó, nghĩa là phải thích ứng với thiên nhiên, và càng thích ứng với thiên nhiên, con người càng có khả năng biến đổi và làm chủ thiên nhiên. Không ai có thể làm cho thiên nhiên tuân theo ý mình trước khi chính mình tuân theo luật của thiên nhiên đã. Cũng như một người muốn điều khiển một chiếc xe gắn máy, trước tiên bản thân anh ta phải thích ứng với chiếc xe, nghĩa là phải tuân hành nghiêm túc những thể lệ hay qui luật của chiếc xe đó. Nếu không như thế, anh sẽ không bao giờ điều khiển được chiếc xe.
Đó chỉ là một vài minh họa khá què quặt [*] để nói lên rằng muốn phúc âm hóa một nền văn hóa mà không đếm xỉa đến những qui luật, những đòi hỏi của nền văn hóa ấy, chỉ muốn áp đặt những gì mình muốn trên đó, thì việc phúc âm hóa ấy sẽ không bao giờ thành công.
[*] Sở dĩ nói què quặt là vì phúc âm hóa không phải là một chiến thuật để chinh phục hay làm chủ người khác, mà để cảm hóa lòng người, giúp người khác nhận chân được chân lý đức tin. Nhưng để được như vậy, việc thích ứng với quan niệm của họ cũng rất cần thiết.
 (Xin xem tiếp phần 2 tại trang https://www.phongtraogiaodan.org/news/963)

Nguyễn Chính Kết

Từ khóa liên quan:
Bài tin liên quan
Chia sẻ bài viết

Tác giả


Nguyên Chính Kết

Phạm Hồng Lam

BBT

Phạm Hương Sơn

Phạm Thiên Phước

Thông tin


Phong Trào Giáo dân Việt Nam Hải Ngoại C/o Do Nhu Dien
10687 Weatherhill Court. San Diego, CA 92131. USA
ptgdvn@gmail.com
www.phongtraogiaodan.org
www.phongtraogiaodan.com

Copyright © 2024 team_vvpb