Phần II: Dẫn Độ Đâu Dễ

 

 

Bao tuyên bố mạnh mẽ được tung lên internet. Nhưng càng đọc thì càng thấy buồn về cách tư duy và phát ngôn dễ dãi. Chẳng chịu tìm hiểu, tra cứu cho đến nơi đến chốn, mà đã vội tùy tiện khẳng định như đinh đóng cột. Cứ như kị sĩ dũng mãnh giương cung, nhưng chẳng quan sát kỹ mục tiêu, nên mũi tên vút bay rồi lạc xa chân lý.

Có ý kiến cho rằng:

“Việt Nam và Đức đều là thành viên của Tổ chức Cảnh sát quốc tế (Interpol); Việt Nam đã ra lệnh truy nã toàn cầu TXT, tổ chức này đã đưa vào danh sách thì Cảnh sát Đức có trách nhiệm phối hợp với Cảnh sát quốc tế và Cảnh sát VN thực hiện lệnh truy nã đó.”

Thật là đanh thép. Song có đúng như vậy không? Chuyện “Việt Nam đã ra lệnh truy nã toàn cầu TXT” thì báo chí đã viết. Nhưng “tổ chức này đã đưa vào danh sách” hay chưa? Nếu “đã đưa vào danh sách” thì “danh sách” nào? INTERPOL ban hành 8 loại Thông báo (Notices), trong đó chỉ có Thông báo Đỏ (Red Notice) là liên quan đến việc bắt giam người bị truy nã (to arrest of wanted persons). Ngày 17/11/2016, Thượng tướng Lê Quý Vương (Thứ trưởng Bộ Công an) tuyên bố: Ban thư ký của Interpol đã ra lệnh truy nã quốc tế ông Trịnh Xuân Thanh từ 29/9, sau khi nhận được yêu cầu của cơ quan điều tra Việt Nam. Nhưng ngày 6/8/2017 (tức hơn 8 tháng sau), VOA lại đưa tin “Chưa thấy tên ông Trịnh Xuân Thanh trên trang Interpol”. Vậy sự thật nằm ở đâu? Thử tự mình trực tiếp tra cứu Thông báo Đỏ của INTERPOL vào ngày 10/8/2017, thì chỉ tìm được một người Việt Nam mang họ Trịnh và một người Việt Nam tên là Thanh, nhưng cả hai đều là phụ nữ.

Giả sử INTERPOL đã đưa tên TXT vào Thông báo Đỏ, thì điều gì có thể xảy ra? Có phải “Cảnh sát Đức có trách nhiệm phối hợp với Cảnh sát quốc tế và Cảnh sát Việt Nam thực hiện lệnh truy nã đó” hay không? Tiếc rằng, câu trả lời là KHÔNG! Bởi INTERPOL viết rõ trên trang web, rằng Thông báo Đỏ “không phải là lệnh bắt giữ quốc tế”, và

“INTERPOL không thể ra lệnh bất cứ nước thành viên nào bắt giữ một cá nhân được đề cập trong Thông báo Đỏ. Mỗi nước thành viên tự xác định giá trị pháp lý của một Thông báo Đỏ trên lãnh thổ của mình.”

Ý kiến khác lại cho rằng:

“Để dẫn độ tội phạm đang trốn ở nước ngoài về xử lý, trước hết quốc gia đó phải ký Hiệp định tương trợ tư pháp với quốc gia được đề nghị dẫn độ…”

Nếu tin vào khẳng định ấy, thì có thể rút ra một nhận định sai lầm tai hại. Rằng do giữa Việt Nam và Đức chưa có ký kết về dẫn độ, nên phía Đức sẽ không chấp nhận yêu cầu của phía Việt Nam về việc dẫn độ TXT. Vì vậy, phía Việt Nam chỉ còn cách duy nhất, là lẻn vào Đức để bắt cóc TXT. Thực ra, ký kết song phương về dẫn độ có thể giúp cho việc dẫn độ được tiến hành nhanh chóng và thuận lợi hơn. Nhưng nếu chưa có ký kết thì vẫn có thể tiến hành dẫn độ. Đối với Đức thì điều đó rất rõ ràng:

“Không nhất thiết phải có Hiệp định Dẫn độ; dẫn độ vẫn có thể tiến hành trên cơ sở không có hiệp định.” (Sổ tay Nghị sĩ, 2/2001)

Vậy thì tại sao phía Đức chưa chấp nhận, hoặc có thể sẽ không thể chấp nhận yêu cầu của phía Việt Nam về việc dẫn độ TXT? Để trả lời câu hỏi này, sau đây ta đề cập đến bốn điều kiện pháp lý ràng buộc việc dẫn độ.

 

II.1. Điều kiện tương thích về tội danh

Không thể có chuyện, nếu nước này truy tố và yêu cầu dẫn độ ai đó, thì nước kia bắt buộc phải chấp nhận. Bởi cái mà nước này quan niệm là tội, thì có thể nước kia lại không quan niệm là tội, thậm chí còn coi là thành tích. Ví dụ: Ở Việt Nam, nếu ai đó lên tiếng đòi thực thi các quyền con người đã được hiến định, hoặc tố cáo những hành vi phi pháp của giới cầm quyền, thì có thể bị phạt tù vì “Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (Điều 88), hay “Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” (Điều 258, Bộ luật Hình sự 1999). Nhưng ở Liên bang Đức thì đó không phải là tội, và nếu phải quy tội bằng được, thì chính tác giả sinh ra hai điều luật ấy mới là có tội.

Để tạo cơ sở pháp lý cho quyết định truy nã quốc tế, ngày 16/9/2016 Cơ quan Cảnh sát điều tra của Bộ Công an đã ra Quyết định khởi tố bị can số 363/C46(P12) đối với TXT về “Tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” – quy định tại Điều 165 Bộ luật Hình sự 1999.

Động cơ là thứ không thể cân đo đong đếm, vậy thì bằng cách nào để xác định là đương sự “cố ý” hay “vô ý”? “Quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế” thì nhiều cái sai lè lè, nếu răm rắp làm đúng thì có mà… XHCN (“Xã Hội Chủ Nghĩa”, còn được đọc là “Xuống Hố Cả Nút”). Nếu không có những người dám “làm trái” như ông Kim Ngọc, thì đến giờ bà con nông dân vẫn phải treo niêu. Nếu không có những người dám “làm trái” như bà Ba Thi, thì biết bao công dân Thành phố mang tên Hồ Chí Minh đã có thể chết đói. Thế thì tại sao có thể quan niệm làm đúng là… đúng, còn “làm trái” là sai? Và khi có “hậu quả nghiêm trọng”, thì có thể do chính “Quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế” hay cấp trên cấp dưới gây ra, chứ tại sao lại đổ riệt cho đương sự? Vậy đó, đến “ta” còn thấy mông lung như vậy, thì sao có thể đòi hỏi “tây” phải hiểu, để mà thực thi “trách nhiệm phối hợp”?

Trớ trêu thay, Bộ Công an lại chọn (để khởi tố bị can đối với TXT) một trong 5 tội không còn tồn tại trong Bộ luật Hình sự 2015, mà lẽ ra đã có hiệu lực từ ngày 1/7/2016 (tức là đúng hai tháng rưỡi trước ngày khởi tố TXT) – nếu như nó không bị hoãn thi hành vì lý do khó chấp nhận. Theo Bộ trưởng Bộ Tư pháp thời đó, Chính phủ đề xuất bỏ “Tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” (Điều 165, Bộ luật Hình sự 1999) là “để đáp ứng yêu cầu hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, bảo đảm sự minh bạch và an toàn của môi trường sản xuất, kinh doanh”. Vậy thì tại sao Bộ Công an lại khởi tố bị can đối với TXT về một tội danh đã bị xóa trong Bộ luật Hình sự 2015, mà lẽ ra đã có hiệu lực thực hiện? Chẳng lẽ vì không tìm được tội danh nào khác phù hợp hơn hay sao?

TXT có tham nhũng hay không? Điều đó thì dân biết, quan biết, và lãnh đạo tối cao thì càng biết rõ. Vậy mà TXT lại không bị khởi tố bất cứ tội nào trong số 7 tội phạm về tham nhũng trong Bộ luật Hình sự hiện hành (1999). Việc tránh khởi tố tội tham nhũng đồng nghĩa với thừa nhận rằng TXT không phạm tội tham nhũng, hoặc cùng lắm chỉ tham… như hầu hết các đồng chí khác. Mà tội đại trà thì không thể bị truy tố, bởi “nếu truy tố hết thì chẳng còn ai để lãnh đạo”.

Căn cứ vào quy định pháp luật của CHLB Đức, thì câu trả lời đã khá rõ ngay từ khi nhận được đề nghị dẫn độ TXT của phía Việt Nam. Vì IRG (Gesetz über die internationale Rechtshilfe in Strafsachen, Luật về Tương trợ Tư pháp Quốc tế trong Lĩnh vực Hình sự của CHLB Đức) quy định tại Điều 3, Khoản 1:

“Chỉ được phép dẫn độ nếu hành vi liên quan cũng là hành vi phạm pháp theo luật Đức, thực hiện yếu tố cấu thành tội phạm của Bộ luật Hình sự Đức, hoặc về bản chất theo luật Đức thì tương tự một hành vi như vậy.”

Theo điều khoản này, thì phía Đức không được phép dẫn độ TXT bởi “tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”, vì trong Bộ luật Hình sự của CHLB Đức không có tội danh nào như vậy hoặc tương tự như vậy.

 

II.2. Điều kiện không được kết án tử hình

Để có thể thuyết phục phía Đức chấp nhận dẫn độ TXT, thì chỉ còn cách bổ sung tội danh phù hợp với luật của Đức. Thế là ngày 15/3/2017, nhân xét xử vụ án lừa đảo tại dự án Thanh Hà – Cienco 5 Land, Hội đồng Xét xử Tòa án Nhân dân Cấp cao tại Hà Nội đã công bố quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với Trịnh Xuân Thanh về “tội tham ô tài sản”. Tưởng rằng như vậy đã lách xong luật Đức, ai ngờ lại tự mình dựng lên rào cản bê tông.

Điều 278 Bộ luật Hình sự số 15/1999/QH10 quy định có thể bị xử tử hình, nếu “chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên”. Điều 353 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 (lẽ ra có hiệu lực từ ngày 1/7/2016, nhưng được sửa đổi theo Luật số 12/2017/QH14 và có hiệu lực từ ngày 1/1/2018) quy định có thể bị xử tử hình, nếu “chiếm đoạt tài sản trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên”,  hay nếu “gây thiệt hại về tài sản 5.000.000.000 đồng trở lên”. Chắc hẳn thành tích bất hảo của TXT cao gấp nhiều lần so với tiêu chuẩn dành cho hạng “cán bộ cấp chiến lược” này.

Trong khi đó, IRG quy định tại Điều 8 rằng:

“Nếu theo luật của nhà nước đề nghị dẫn độ mà hành vi phạm tội có nguy cơ bị kết án tử hình, thì chỉ được dẫn độ trong trường hợp nhà nước đề nghị dẫn độ đảm bảo rằng sẽ không kết án tử hình.”

Liệu Nhà nước Việt Nam có thể đảm bảo với phía Đức rằng sẽ không xử tử hình TXT hay không? Nếu không đảm bảo thì tất nhiên “hết phim”. Còn nếu đảm bảo, thì có nghĩa là lãnh đạo Nhà nước Việt Nam sẽ áp đặt mức án (không quá mức tù chung thân) cho thẩm phán. Và như vậy là vi phạm Điều 103 Khoản 2 Hiến pháp 2013, quy định rằng:

“Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm.”

Hơn nữa, còn mang tiếng tùy tiện. Và sau này biết xét xử thế nào với những trường hợp tương tự? Nếu vì án lệ TXT, mà sẽ chẳng xử tử hình bất cứ ai với “tội tham ô tài sản”, thì hóa ra phủ định Bộ luật Hình sự của CHXHCN Việt Nam hay sao?

 

II.3. Điều kiện về xét xử công bằng

Cho dù Nhà nước Việt Nam cam đoan sẽ không xử tử hình TXT, thì vẫn chưa đủ để phía Đức chấp nhận dẫn độ. Một trong những điều kiện quan trọng để phía Đức có thể chấp nhận dẫn độ là:

“Phải đảm bảo rằng người bị dẫn độ sẽ được xét xử công bằng.” (Sổ tay Nghị sĩ, 2/2001)

Đó là hệ quả trực tiếp của quy định tại Điều 1 Khoản 1 của Luật Cơ bản: ” Phẩm giá con người là bất khả xâm phạm. Tôn trọng và bảo vệ nó là nhiệm vụ của mọi quyền lực nhà nước.” Và điều đó cũng phù hợp với quy ước “tuyệt đối cấm tra tấn”, được quy định tại Điều 2 của Công ước chống Tra tấn của Liên Hiệp Quốc.

Tất nhiên, phía Việt Nam sẽ tuyên bố như muôn thuở, rằng đảm bảo TXT sẽ được xét xử công bằng. Song liệu phía Đức có thể tin tưởng vào lời đảm bảo đó hay không? Để hiểu đôi chút lý do, vì sao người Đức ngờ vực, hãy tham khảo mấy trải nghiệm đáng buồn của họ.

Sau khi bay đến Hà Nội để trực tiếp chứng kiến phiên tòa phúc thẩm xét xử công khai Nguyễn Hữu Vinh và Nguyễn Thị Minh Thúy, mà bản thân ông và nhiều người quan tâm phải đứng vật vờ ngoài đường, không được vào nơi xét xử, ngày 23/9/2016 Nghị sĩ Quốc hội Đức Martin Patzelt đã ra thông cáo báo chí với tiêu đề “Việt Nam: Phiên tòa phúc thẩm không công bằng cho nhà đấu tranh nhân quyền Nguyễn Hữu Vinh”.

Ngày 30/6/2017, Đặc ủy Nhân quyền của Chính phủ Đức Bärbel Kofler đã ra thông cáo báo chí về bản án dành cho Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (Mẹ Nấm), trong đó có đoạn:

“Tôi bàng hoàng trước bản án 10 năm tù dành cho blogger và nhà hoạt động Nguyễn Ngọc Như Quỳnh. Việc kết án, rõ ràng bị chi phối bởi chính trị, trái với các nguyên tắc về nhân quyền và vi phạm các nghĩa vụ quốc tế trong lĩnh vực quyền dân sự và chính trị mà Việt Nam đã ký kết.”

Và ngày 27/7/2017, bà Bärbel Kofler lại ra thông cáo báo chí tương tự “về án tù 9 năm đối với nhà hoạt động nhân quyền Việt Nam Trần Thị Nga”. Cả hai thông cáo đều được chính thức công bố trên trang web của Bộ Ngoại giao Đức, tức đó cũng là quan điểm chính thức của Chính phủ Đức.

Quan điểm của phía Đức đã được thể hiện rõ ràng như vậy, thì làm sao có thể thuyết phục được họ, rằng chắc chắn TXT sẽ được xét xử công bằng? Chẳng lẽ lại ôn tồn giải thích, rằng đồng chí TXT đã từng là cán bộ lãnh đạo cao cấp, nên sẽ không bị xử tệ như tụi tranh đấu nhân quyền hay sao?

 

II.4. Cấm dẫn độ đối với hành vi liên quan tới chính trị

Bức tường thành khó vượt qua nhất là quy định của IRG tại Điều 6, Khoản 1:

“Không được dẫn độ đối với hành vi mang tính chính trị, hoặc hành vi có liên quan tới hành vi mang tính chính trị.”

Tuy điều khoản này còn mở ra ngoại lệ dẫn độ đối với các tội diệt chủng, giết người và ngộ sát, nhưng đó không phải là cánh cửa để có thể tóm được TXT, vì phía Việt Nam không hề khởi tố TXT về những tội ấy.

Đừng vội phủ định là TXT không bị truy tố về hành vi mang tính chính trị, mà chỉ bị truy tố về tội kinh tế. Cũng đừng tốn công thuyết phục phía Đức là TXT phạm tội tham nhũng, vì theo chuẩn của Đức thì đa số quan chức Việt Nam đều đủ tiêu chuẩn tham nhũng để đứng trước vành móng ngựa. Chắc hẳn phía Đức không hề băn khoăn về việc TXT có phạm tội tham nhũng hay không, nhưng buộc phải trả lời câu hỏi: Hành vi bị truy tố của TXT có mang tính chính trị, hoặc có liên quan tới hành vi mang tính chính trị hay không? Vụ án TXT có mang yếu tố chính trị hay không?

Bà Petra Isabel Schlagenhauf, một trong các luật sư bảo vệ TXT, khẳng định trong thông cáo báo chí:

“Không bao giờ có chuyện ông Trịnh tự nguyện nộp mình cho các cơ quan Việt Nam. Ông ấy biết rõ, vì lý do chính trị, ông ấy sẽ không được xét xử công bằng.”

Tức là theo quan điểm của Luật sư Schlagenhauf và thân chủ TXT, thì vụ án này mang yếu tố chính trị và TXT sẽ không được xét xử công bằng”.

Để chứng minh quan điểm ấy, Luật sư Schlagenhauf đã dành 653 từ (tiếng Đức) mô tả tóm tắt cuộc tranh giành quyền lực giữa Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, đồng thời đề cập tới số phận của Vũ Huy Hoàng, Đinh La Thăng và TXT. Trong đó có đoạn:

“Ông Trịnh Xuân Thanh được coi là người được cả Vũ Huy Hoàng và Đinh La Thăng bảo trợ. Ông ta cũng có mối quan hệ cá nhân với Nguyễn Tấn Dũng, người cầm đầu phe hiện nay đã bị tước bỏ quyền lực trong nội bộ ĐCSVN. Ông Trịnh thuộc khuynh hướng cải cách của ĐCSVN. Dưới thời Chính phủ của Nguyễn Tấn Dũng, ông ấy đã có một sự nghiệp thành công. Các nhà quan sát chính trị cho rằng, việc truy tố hình sự đối với ông Trịnh Xuân Thanh nhằm mục đích chính trị chống lại phe của Nguyễn Tấn Dũng, với ý định đập tan nhóm cải cách (“bọn tư bản”) trong nội bộ ĐCS, khôi phục và tăng cường vai trò của Đảng trên cơ sở ý thức hệ cộng sản.”

Thử hỏi, sẽ bác bỏ quan điểm trên của Luật sư Schlagenhauf và của TXT bằng cách nào? Chuyện mâu thuẫn và tranh chấp quyền lực trên thiên đình là bí mật… công khai, mà ai ai cũng biết. Thậm chí, bà Schlagenhauf còn đề cập tới cả bản báo cáo đề ngày 4/9/2016, mà TXT gửi Ủy ban Kiểm tra Trung ương. Trong đó TXT kết luận: “Tôi xin ra khỏi Đảng vì không tin vào sự chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư.”

Liệu có thể thuyết phục được dư luận trong và ngoài nước, rằng tất cả các yếu tố ấy không hề ảnh hưởng tới động cơ và tình cảm của những người ra quyết định khởi tố và truy nã quốc tế đối với TXT hay không? Và có thể chứng minh rằng vụ TXT không hề bị ảnh hưởng bởi yếu tố chính trị hay không? Hãy bỏ qua những câu hỏi về nội tâm (khó xác định một cách rõ ràng), để trao đổi về bốn khía cạnh cụ thể, đã được công khai trên báo chí, mà phía Đức có thể dựa vào đó để lập luận.

 

II.4.a. Về thế lực chỉ đạo truy nã

Về hình thức, Bộ Công an đã phát lệnh khởi tố và truy nã quốc tế với TXT vào ngày 16/9/2016. Nhưng dư luận thừa hiểu, rằng Bộ Công an không thể tự mình quyết định một việc “nhạy cảm” như vậy. Lệnh ấy chắc chắn phải đến từ thượng tầng. Tuy khâu quyết định ở hậu trường thuộc vào phạm trù “bí mật”, nhưng thực chất quyền lực đã được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng hé lộ trong Hội nghị tiếp xúc cử tri tại huyện Đông Anh (Hà Nội) vào ngày 6/12/2016, khi tuyên bố “bắt bằng được Trịnh Xuân Thanh”. Hơn 4 tháng sau, khi chủ trì cuộc họp của Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng vào ngày 17/4/2017, “Tổng Bí thư chỉ đạo tập trung lực lượng điều tra mở rộng vụ án xảy ra tại Tổng công ty cổ phần xây lắp dầu khí Việt Nam (PVC); truy bắt, dẫn độ Trịnh Xuân Thanh về nước phục vụ điều tra, xử lý vụ án”.

Dư luận trong nước chắc chẳng hề lăn tăn, thậm chí còn ngợi ca Tổng Bí thư chỉ đạo sát sao và cương quyết chống tham nhũng. Nhưng người Đức có thể đặt ra câu hỏi: Tại sao Tổng Bí thư ĐCSVN lại chỉ đạo truy bắt TXT? Để trả lời, hiển nhiên phía Việt Nam viện dẫn Điều 4 Hiến pháp, nơi hiến định “ĐCSVN… là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Với bản năng “máy móc”, người Đức sẽ thắc mắc, rằng Điều 4 Hiến pháp cũng quy định: “Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.”“trong khuôn khổ” được quy định tại Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 (có hiệu lực từ 27/11/2015), thì chẳng có cương vị lãnh đạo nào của ĐCSVN được liệt kê trong danh sách “những người… có quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp” tại Điều 110, và “những người… có quyền ra lệnh, quyết định bắt bị can, bị cáo để tạm giam” tại Điều 113. Và cho dù vin vào chức vụ Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng (thành lập theo Quyết định số 162-QĐ/TW của Bộ Chính trị), thì người Đức cũng chẳng thông, vì đó chỉ là một ban của ĐCSVN, là thứ không hề được nhắc tới “trong khuôn khổ” của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

Vậy là, theo “tư duy hạn hẹp” của người Đức, thì việc Tổng Bí thư của một đảng chính trị tuyên bố “bắt bằng được TXT”“chỉ đạo tập trung lực lượng… truy bắt, dẫn độ Trịnh Xuân Thanh về nước phục vụ điều tra, xử lý vụ án” đã đủ để cho thấy, đó là một vụ án mang tính chính trị, hay ít nhất là Tổng Bí thư đã chính trị hóa vụ án.

 

II.4.b. Về tội danh truy nã

 Khi Bộ Công an phát lệnh truy nã quốc tế vào ngày 16/9/2016, thì chỉ mới truy tố một tội danh, đó là “tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”. Vì ở CHXHCN Việt Nam thì quy định của Nhà nước thực ra là quy định của ĐCSVN. Do đó, “cố ý làm trái quy định của Nhà nước” cũng có nghĩa là “cố ý làm trái quy định của ĐCSVN”, và có thể giải thích đó là hành vi phản ứng lại chủ trương đường lối của một đảng phái chính trị. Vậy thì, theo cách tư duy của người Đức, rõ ràng hành vi phản ứng ấy của TXT mang tính chính trị.

 

II.4.c. Về lực lượng truy nã

Sáng ngày 30/7/2017, nhà báo Huy Đức đưa tin: “Trịnh Xuân Thanh về mà báo chí im ắng nhỉ.” Status ngắn ngủi ấy đã gây xôn xao. Sau đó, khi phóng viên đặt câu hỏi về thông tin cho là cơ quan điều tra đã di lí Trịnh Xuân Thanh về Việt Nam rồi, báo Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh muốn đưa thông tin chính thức từ lãnh đạo Bộ Công an, Thượng tướng Tô Lâm nói: “Đến giờ tôi vẫn chưa có thông tin gì.” Ngay tức khắc, vào lúc 12h50 ngày 30/7/2017, tờ báo mạng mang tên “Đại biểu Nhân dân” (tại địa chỉ http://quochoi.org/) đăng trên mục “Bút chiến trên mạng” bài “Sự thật về thông tin Trịnh Xuân Thanh về nước”. Bài đó được mở đầu như sau:

“Trên trang facebook cá nhân sáng nay, Trương Huy San (Osin Huy Đức) đã đăng tải dòng chia sẻ giật gân đầy khiêu khích rằng “Trịnh Xuân Thanh về mà báo chí im ắng nhỉ”, dòng tin ngắn ngủi trên lập tức nhận được hàng ngàn lượt like, hàng trăm lượt chia sẻ, và dư luận bắt đầu bàn tán xôn xao. Vậy sự thật như thế nào?”

“Trong một phản ứng rất nhanh chóng và kịp thời, tại buổi trao đổi với PV Báo Pháp Luật TP HCM sáng nay (30/7), liên quan đến tin đồn cho rằng Bộ Công an đã dẫn độ Trịnh Xuân Thanh về Việt Nam để phục vụ công tác điều tra, Thượng tướng Tô Lâm, Bộ trưởng Bộ Công an cho biết: “Đến giờ tôi vẫn chưa có thông tin gì”.”

Thế nhưng vào hôm sau, ngày 31/7/2017, Bộ Công an lại đưa tin TXT “đã đến Trực ban hình sự Cơ quan An ninh điều tra – Bộ Công an đầu thú”. Thậm chí, bà Petra Isabel Schlagenhauf (luật sư của TXT) còn viết trong thông cáo báo chí rằng:

“Người phụ nữ Việt Nam bị bắt cóc cùng với ông (tức TXT) nằm trong Bệnh viện Việt – Đức ở Hà Nội từ ngày 25/7/2017 dưới sự canh giữ của cảnh sát.”

“Vua không nói chơi”, nên Bộ trưởng Công an cũng không thể nói dối báo Pháp luật của Thành phố mang tên Hồ Chí Minh. Vì vậy, về nguyên tắc thì phải tin là Thượng tướng Tô Lâm đã nói thật. Tức là Bộ trưởng Công an “vẫn chưa có thông tin gì”, mặc dù TXT đã “về” mấy ngày rồi.

Điều 493 Khoản 1 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định:

“Bộ Công an là Cơ quan trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong hoạt động dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.”

Vậy mà Thủ trưởng tối cao của cái Cơ quan trung ương ấy lại không hề được biết về chiến dịch “đưa TXT về”. Theo cách nghĩ “đơn giản” của người Đức, khi chiến dịch ấy không phải do “Cơ quan trung ương của nước CHXHCN Việt Nam trong hoạt động dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù” chỉ đạo và thực hiện, thì chắc hẳn do một băng đảng nào đó điều khiển. Và chiến dịch ấy có thể chỉ phục vụ đấu đá phe nhóm, chứ không thể là hoạt động chính đáng của nhà nước pháp quyền. Và hiển nhiên, đấy cũng là một dấu hiệu chính trị của vụ án TXT.

 

II.4.d. Về phương pháp truy nã

Đối với phía Đức thì đó là một vụ bắt cóc. Do tầm nghiêm trọng của vụ việc, Viện Tổng Công tố Liên bang Đức đã chính thức tiếp nhận nhiệm vụ điều tra từ Viện Công tố Berlin vào ngày 10/8/2017. Thông báo cùng ngày của Viện Tổng Công tố Liên bang có đoạn viết:

“Kết quả điều tra đến nay cho thấy, nạn nhân đã bị đưa về Đại sứ quán Việt Nam ở Berlin và từ đó bị đưa về Việt Nam. Trước bối cảnh ấy, Viện Tổng Công tố Liên bang đã tiếp nhận điều tra nghi án hoạt động gián điệp (Điều 99 Bộ luật Hình sự Đức)tước đoạt tự do (Điều 239 Bộ luật Hình sự Đức).”

Bắt cóc TXT ngay giữa Thủ đô Berlin là hành vi giang hồ phi pháp, không thể coi là hành động chính đáng của một nhà nước pháp quyền. Thử hỏi, bạn sẽ chọn thuật ngữ “mang tính chính trị”, hay thuật ngữ “mang tính mafia”, hay thuật ngữ nào để đánh giá một vụ án được tiến hành như vậy?

II.4.e. Như vậy, xét tứ phía thì đều thấy đậm màu chính trị. Với những khía cạnh được trình bày trong phần II.4 này, thì làm sao có thể phủ định nghi ngờ về “tính chính trị”? Và làm sao có thể yêu cầu phía Đức vi phạm điều cấm: “Không được dẫn độ đối với hành vi mang tính chính trị” (IRG, Điều 6, Khoản 1)?

II.5. Tóm lại, chưa có bằng chứng chính xác nào có thể xác nhận lời tuyên bố của phía Việt Nam, rằng INTERPOL đã đưa tên TXT vào Thông báo Đỏ. Giả sử INTERPOL đã làm điều đó, thì “INTERPOL không thể ra lệnh bất cứ nước thành viên nào bắt giữ một cá nhân được đề cập trong Thông báo Đỏ” – đó là nguyên tắc của chính INTERPOL.

Việc phía Đức chấp nhận yêu cầu dẫn độ TXT là rất khó khăn, vì vấp phải mấy điều kiện nghiêm ngặt của luật pháp Đức.

Vướng mắc với điều kiện tương thích về tội danh (II.1) đã được khắc phục, sau khi khởi tố thêm vụ án hình sự đối với TXT về “tội tham ô tài sản” vào ngày 15/3/2017. Nhưng vì thế lại vấp phải điều kiện không được kết án tử hình (II.2), vì Bộ luật Hình sự Việt Nam quy định mức án cao nhất cho “tội tham ô tài sản” là tử hình. Nếu Chính phủ Việt Nam tự ý cam đoan sẽ không kết án tử hình TXT, thì ít nhất cũng vi phạm Điều 103 Khoản 2 Hiến pháp 2013, “nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm”.

Về điều kiện xét xử công bằng thì phía Việt Nam có thể đưa ra cam kết, nhưng cả người nói lẫn người nghe đều biết quá rõ, đó chỉ là câu chuyện viễn tưởng mà thôi. Cho dù phía Việt Nam thành tâm cam kết, thì phía Đức cũng thừa hiểu, quan niệm của hai xứ về xét xử công bằng quá khác nhau. Vì vậy, nếu Chính phủ Đức tỏ ra tin vào cam kết ấy của phía Việt Nam để chấp nhận dẫn độ, và nếu sau này TXT không được xét xử công bằng (theo quan niệm của phía Đức), thì các luật sư Đức của TXT có thể khởi kiện Chính phủ Đức trước tòa án Đức, với niềm tin thắng kiện.

Rào cản khó vượt qua nhất là điều kiện cấm dẫn độ đối với hành vi mang tính chính trị. Bởi vì có quá nhiều biểu hiện của yếu tố chính trị trong vụ án TXT, như đã được trình bày trong phần II.4.

(tiếp phần III)

Một số điều cần trao đổi nhân vụ Trịnh Xuân Thanh (II)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *