Phần I: Hạn chế quyền lực trong nhà nước pháp quyền

Hoàng Xuân Phú.
Nguồn: hpsc.iwr.uni-heidelberg.de/hxphu/

 

Xa Tổ quốc gần nỗi đau Tổ quốc
Trải nỗi lòng mong nhẹ bớt nỗi đau

 

Cái tên Trịnh Xuân Thanh (TXT) sẽ đi vào lịch sử. Song không phải vì tội “cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”, hay vì tội tham nhũng. Dù đã gây ra những hậu quả rất tệ hại, nhưng trong hàng ngũ các đồng chí thi đua phá phách – vơ vét, thì tầm vóc của Thanh vẫn còn khá khiêm tốn. So với các đại ca thì Thanh mới như “trẻ nhỏ đua đòi”. Còn so với mấy bố già thì Thanh càng chưa thể sánh ngang vai trên con đường hại dân hại nước. Bởi thế, khi các đại ca và bố già vẫn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật, thậm chí còn vắt vẻo trên đỉnh cao quyền lực, thì chắc Thanh cũng khó cam lòng “đầu thú”.

Thiên hạ sẽ dùng tên TXT để đề cập một diễn biến hiếm có trong lịch sử ngoại giao, mà đọng lại là hình hài đích thực của kiểu pháp quyền sản xuất tại Việt Nam. Vốn dĩ, thi hành công vụ kiểu giang hồ là chuyện thường ngày ở xứ “dân chủ vạn lần tư bản”. Song lần này đặc sản “luật rừng” được xuất khẩu sang khối Cộng đồng chung Châu Âu, và công diễn giữa trung tâm Thủ đô Berlin của Cộng hòa Liên bang Đức.

Sau mười ngày điều tra và cân nhắc thận trọng, ngày 2/8/2017 Bộ Ngoại giao CHLB Đức đã ra thông cáo báo chí, trong đó khẳng định:

“Việc bắt cóc công dân Việt Nam Trịnh Xuân Thanh trên lãnh thổ Đức là sự vi phạm trắng trợn chưa từng có đối với luật pháp Đức và luật pháp quốc tế.”

“Chính phủ Liên bang Đức đòi hỏi, rằng ông Trịnh Xuân Thanh có thể quay lại Đức ngay lập tức, để cả đề nghị dẫn độ và đơn xin tỵ nạn đều có thể được xem xét đến cùng đúng theo trình tự pháp lý.”

Chiều hôm sau, ngày 3/8/2017, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng nói:

“Liên quan đến phát biểu của Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Đức xung quanh vụ việc Trịnh Xuân Thanh, tôi lấy làm tiếc về phát biểu ngày mùng 2 tháng 8 của Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Đức.”

Vâng, “tiếc” về “phát biểu của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Đức”. Như thể phật ý, vì phát biểu của phía Đức có điều gì sai trái, hay không hợp lý. Khi phóng viên nước ngoài hỏi “Việt Nam có xác nhận lời cáo buộc bắt cóc Trịnh Xuân Thanh không”, thì bà Hằng trích dẫn:

“Theo thông báo ngày 31 tháng 7 của Bộ Công an Việt Nam thì ông Trịnh Xuân Thanh đã ra trình diện và đầu thú.”

Vậy là nhà cầm quyền Hà Nội không trực tiếp bác bỏ cáo buộc bắt cóc TXT của phía Đức (vì “ra trình diện và đầu thú” không có nghĩa là trước đấy không bị bắt cóc). Song cũng không công khai thừa nhận và chẳng có hồi đáp chính thức về cáo buộc của phía Đức. Có lẽ vì thế, Bộ trưởng Ngoại giao Đức Sigmar Gabriel đã phải nhấn mạnh (trong bài trả lời phỏng vấn đăng trên báo Stuttgarter Nachrichten ngày 6/8/2017):

“Hành vi của mật vụ Việt Nam trên lãnh thổ Đức là hoàn toàn không chấp nhận được. Tôi muốn nói hết sức rõ ràng rằng: Chúng tôi không bao giờ chấp nhận trò ấy, và cũng sẽ chẳng để yên việc ấy.”

Trong khi nhà cầm quyền Hà Nội làm thinh, thì dư luận người Việt trên thế giới ảo cực kỳ sôi động. Người thì phê phán chính quyền Hà Nội, người lại tỏ ra đồng tình. Số đồng tình dựa trên niềm tin chân chất, rằng việc bắt cóc TXT (nếu có) là cần thiết cho nỗ lực chống tham nhũng. Và rằng động cơ của thế lực ra lệnh bắt cóc TXT chỉ đơn thuần là nghiêm trị kẻ tham nhũng. Còn tính hợp pháp của hành vi bắt cóc ư? “Mục đích biện minh cho phương tiện.” Vả lại, “thế giới” cũng làm thế cả. Có điều, khi xòe tay điểm danh để chứng minh hùng hồn, rằng việc chính quyền một nước tổ chức bắt cóc ở nước ngoài vì mục đích tử tế là thông lệ quốc tế, thì chỉ duỗi được vài ngón. Còn ngón tiếp theo thì tần ngần, chẳng biết chỉ về đâu. Thử hỏi, bắt cóc kiểu ấy là hành xử bất thường của vài siêu cường, mà cộng đồng đành phải cắn răng chịu đựng? Hay của nhà nước đại diện cho dân tộc đã từng bị vùi dập trước sự làm ngơ của các cường quốc, tới mức hậu thế vẫn còn cảm thấy mắc nợ? Hay của mấy nhà cầm quyền mà thế giới văn minh phỉ nhổ?

Điều đáng bàn là có “một bộ phận không nhỏ” chỉ trích mạnh mẽ phản ứng của phía Đức. Họ cho rằng phía Việt Nam hành động như vậy là đúng, nên phía Đức phát ngôn như vậy là sai. Thậm chí cho rằng “Đức… dung dưỡng cho một tên tội phạm như Trịnh Xuân Thanh”, và lên án “thói đạo đức giả của nhà cầm quyền Berlin”. Những chỉ trích nặng nề kiểu ấy không chỉ được đăng trên các trang cá nhân, mà trên cả báo quốc doanh, chẳng hạn bài “Vụ Trịnh Xuân Thanh về nước đầu thú: Bộ Ngoại giao Đức hồ đồ hay mua phiếu?” – đăng ngày 18/08/2017 trên Tuần báo Văn nghệ của Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Thành phố Hồ Chí Minh.

Thật khó dung hòa giữa tư duy pháp quyền “vùng sâu vùng xa” với tư duy pháp quyền kiểu Đức. Vốn cả đời chung sống với luật rừng và tiếp xúc với lối hành xử giang hồ của quan chức bản địa, nên tưởng rằng như vậy mới hợp lẽ tự nhiên. Thành thử khó chấp nhận lối tư duy pháp lý xa lạ, máy móc của “bọn Tây”. Cũng giống như trai bản, quen đi rừng phạt cây mà tiến, nay lạc vào đô thành thì khó chịu với đèn đỏ đèn vàng, bởi cho rằng chúng cản trở giao thông.

Nếu những ý kiến ấy chỉ thể hiện tư duy quần chúng, thì phải tôn trọng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của họ. Nhưng trong số đó có cả ý kiến từ giới luật sư. Với những lập luận pháp lý tưởng chừng rất vững chắc, nhưng tiếc rằng lại sai. Vì vậy, tôi viết bài này để trao đổi, với hy vọng làm rõ hơn một số cơ sở pháp lý của vụ việc, để từ đó mà hiểu đúng và có cách ứng xử hợp lý.

Nội dung tiếp theo được chia thành 5 phần.

Phần I, với tiêu đề “Hạn chế quyền lực trong nhà nước pháp quyền”, trình bày 3 vụ việc đặc biệt đã từng diễn ra ở CHLB Đức. Nhằm minh họa về sự hạn chế quyền lực đối với cơ quan đứng đầu nhà nước (I.1. Vụ cấm NPD hoạt động), đối với người thi hành công vụ (I.2. Vụ án Daschner), và khó khăn gặp phải trong việc dẫn độ (I.3. Vụ án Haikel S.) tại một nhà nước pháp quyền đích thực. Qua đó, có thể thấy ở Đức, không phải các cơ quan nhà nước (dù ở cấp cao nhất) muốn làm gì cũng được, mà phải nghiêm ngặt tuân theo những quy định của pháp luật. Từ đấy có thể hiểu và thông cảm với cách xử sự thận trọng của phía Đức đối với yêu cầu dẫn độ TXT. Hơn nữa, để đạt được hiệu ứng tâm lý, sẽ được viết trong phần I.4.

Phần II, với tiêu đề “Dẫn độ đâu dễ”, trình bày 4 điều kiện luật định của Liên bang Đức cho việc dẫn độ. Đó là điều kiện tương thích về tội danh (II.1), điều kiện không được kết án tử hình (II.2), điều kiện về xét xử công bằng (II.3), và cấm dẫn độ đối với hành vi liên quan tới chính trị (II.4). Phân tích sẽ chỉ ra ràng buộc pháp luật khiến phía Đức rất khó chấp nhận dẫn độ TXT.

Phần III, với tiêu đề “Xử sự trong hoàn cảnh khó xử”, trình bày một số trao đổi về cách xử sự phù hợp với hoàn cảnh khó khăn và một số đánh giá về cách ứng xử đã diễn ra trên thực tế.

Phần IV, với tiêu đề “Cách nào chữa cháy”, thảo luận về 4 phương án có thể áp dụng để giải quyết khủng hoảng hiện nay. Đó là “phương án kiên định nói thật” (IV.1), “phương án kiên định nói dối” (IV.2), “phương án thành khẩn hối lỗi” (IV.3), và “phương án cùng thắng” (IV.4).

Phần V, với tiêu đề “Mấy điều cần chốt lại”, viết mấy ý vắn tắt về quan điểm chống tham nhũng (V.1), đánh giá về vụ TXT (V.2), và mấy lời nhắn nhủ tới dư luận (V.3).

Bài viết này được trình bày theo phong cách của một công trình nghiên cứu. Nên chỉ phù hợp với những người có thể đầu tư thời gian đọc kỹ và nghiền ngẫm, để hiểu các thông điệp muốn gửi gắm. Nó nặng về lý luận, nên khô khan, không phù hợp với nhu cầu giải trí, hay chia sẻ cảm xúc. Bài viết không điểm lại diễn biến của sự kiện, cũng không trình bày lại các kết quả điều tra. Và không chỉ đóng khung trong vụ TXT. Chính vì vậy mới chọn tiêu đề “Một số điều cần trao đổi nhân vụ Trịnh Xuân Thanh“, chứ không phải “… về vụ Trịnh Xuân Thanh”.

 

I. Hạn chế quyền lực trong nhà nước pháp quyền

 

I.1.  Vụ cấm NPD hoạt động

NPD (Nationaldemokratische Partei Deutschlands, Đảng Dân chủ Quốc gia Đức) là một đảng cực hữu, dân tộc cực đoan, được thành lập năm 1964. Theo đánh giá của nhiều nhà khoa học chính trị, của nhiều sử gia và của Tòa án Hiến pháp Liên bang Đức, thì NPD gần gũi với NSDAP (Nationalsozialistische Deutsche Arbeiterpartei, Đảng Công nhân Xã hội chủ nghĩa Quốc gia Đức, thường được gọi tắt là Đảng Quốc Xã, hay Đảng Nazi).

Ngày 30/1/2001, Chính phủ Liên bang Đức (Bundesregierung) đã kiến nghị Tòa án Hiến pháp Liên bang (Bundesverfassungsgericht) cấm NPD hoạt động. Ngày 30/3/2001 Quốc hội (Bundestag) và Hội đồng Liên bang Đức (Bundesrat) cũng kiến nghị như vậy một cách độc lập. Nhưng kiến nghị này đã vấp phải bê bối đặc tình (V-Mann-Skandal), vì chứng cứ mà các bên kiến nghị sử dụng, để chứng minh tính vi hiến của NPD, chủ yếu dựa trên thông tin của các đặc tình, do Cơ quan Bảo vệ Hiến pháp cài trong bộ máy NPD. Tháng 10/2002, Tòa án Hiến pháp Liên bang tiến hành phỏng vấn để xác định tầm ảnh hưởng của các đặc tình, nhưng bên đưa kiến nghị từ chối cung cấp danh tính của các đặc tình, với lý do bảo vệ nguồn tin. Vì vậy, 3 (trong số 7) thẩm phán tham gia xét xử cho rằng có yếu tố cản trở xét xử (Verfahrenshindernis), và sử dụng quyền phủ quyết để chấm dứt việc xem xét. Lập luận của họ là “thiếu khoảng cách với nhà nước” (fehlende Staatsferne). Thuật ngữ này chỉ việc chính các đặc tình của Cơ quan Bảo vệ Hiến pháp (tức của nhà nước) đã nhúng tay vào việc tạo ra hình ảnh vi hiến của NPD. 4 thẩm phán còn lại muốn đến khi xét xử chính thức mới xác định tầm ảnh hưởng của các đặc tình đối với nghi vấn vi hiến của NPD. Tuy đó là ý kiến của đa số, nhưng vẫn chưa đủ, vì theo Điều 15 Khoản 4 của Luật Tòa án Hiến pháp Liên bang, thì phải cần đa số 2/3 cho biểu quyết ấy. Vì vậy, ngày 18/3/2003, Tòa án Hiến pháp Liên bang đã thông báo không tiếp tục xem xét vụ kiến nghị cấm NPD hoạt động.

Tháng 12/2012, sau khi các Bộ trưởng Nội vụ của tất cả các Bang biểu quyết nhất trí, Hội đồng Liên Bang lại kiến nghị Tòa án Hiến pháp Liên bang cấm NPD hoạt động. Ngày 17/1/2017, Tòa án Hiến pháp Liên bang ra phán quyết, trong đó xác định NPD là vi hiến, có bản chất gần với Chủ nghĩa Xã hội Dân tộc (Chủ nghĩa Quốc Xã, Nationalsozialismus). Tuy nhiên, Tòa cho rằng đảng này không có khả năng đe dọa thực sự nền dân chủ. Chánh án nói: “Hiện nay còn thiếu chứng cứ cụ thể có trọng lượng, có thể cho thấy, hoạt động của nó có thể dẫn đến thành công.” Vì vậy, Tòa án Hiến pháp Liên bang không cấm NPD hoạt động.

Ví dụ về thất bại trong việc kiến nghị cấm NPD hoạt động cho thấy: Quốc hội, Hội đồng Liên bang và Chính phủ Liên bang Đức cũng đành bất lực trước quyết định của Tòa án Hiến pháp Liên bang Đức.

 

I.2. Vụ án Daschner

Đó là vụ án hình sự xử nghi án “xúi dục cấp dưới phạm tội hình sự” (Verleitung eines Untergebenen zu einer Straftat, Điều 357 Bộ luật Hình sự Đức) đối với ông Wolfgang Daschner, và “cưỡng bức” (Nötigung, Điều 240 Bộ luật Hình sự Đức) đối với ông Ortwin Ennigkeit. Xuất phát điểm là vụ bắt cóc và giết hại Jakob von Metzler (11 tuổi) vào năm 2002, mà thủ phạm là Magnus Gäfgen.

Khi bị bắt, Magnus Gäfgen thừa nhận đã bắt cóc, nhưng lại không chịu khai ra nơi dấu Jakob von Metzler. Lo lắng cho mạng sống của nạn nhân, Wolfgang Daschner (Phó Giám đốc Cảnh sát Thành phố Frankfurt am Main) đã quyết định, thông qua sĩ quan cảnh sát dưới quyền là Ortwin Ennigkeit, để dọa thủ phạm, rằng sẽ tiến hành cưỡng bức. Theo tố cáo của Gäfgen, hắn đã bị đe dọa, rằng sẽ phải chịu đau đớn chưa từng nếm trải; rằng một chuyên gia cảnh sát về món đòn ấy đang trên trực thăng, bay đến đây để ra tay thực hiện; và rằng sẽ nhốt hắn chung với hai gã da đen có nhu cầu sinh lý… Ennigkeit khẳng định không hề dùng chuyện “chuyên gia tra tấn”“hai gã da đen” để đe dọa, mà chỉ cố gắng thuyết phục thủ phạm.

Việc đe dọa (nếu có) đã không đem lại kết quả như mong muốn. Sau khi Gäfgen khai ra chỗ dấu nạn nhân, cảnh sát đến nơi thì chỉ tìm được thi thể của cậu bé, đã bị thủ phạm giết chết từ trước. Gäfgen đã bị kết án tù chung thân. Tuy nhiên, khi đã yên vị trong tù, hắn đã khởi kiện hai vị công chức. Phía công tố đề nghị phạt cảnh cáo, phạt tiền. Phía luật sư bào chữa đề nghị trắng án.

Ngày 20/12/2004, Tòa án Frankfurt am Main tuyên bố có tội và tuyên phạt Wolfgang Daschner 10.800 Euro (90 ngày ở mức 120 Euro/ngày) và Ortwin Ennigkeit 3.600 Euro (60 ngày ở mức 60 Euro/ngày), nhưng chỉ phải trả nếu sẽ phạm tội trong vòng một năm. Mức án trên được đánh giá là nhẹ, vì Bộ luật Hình sự Đức quy định tối thiểu 6 tháng tù giam cho loại tội này.

Cơ sở hiến định của bản án được quy định tại Chương I, Điều 1, Khoản 1 của Luật Cơ bản (Hiến pháp Đức):

“Phẩm giá con người là bất khả xâm phạm. Tôn trọng và bảo vệ nó là nhiệm vụ của mọi quyền lực nhà nước.”

Hiến pháp 2013 của CHXHCN Việt Nam cũng có quy định tương ứng tại Điều 20 Khoản 1:

“Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác, xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm.”

Cơ sở pháp lý quốc tế là quy ước “tuyệt đối cấm tra tấn” (absolute prohibition of torture), được quy định tại Điều 2 của Công ước chống Tra tấn của Liên Hiệp Quốc:

“1. Mỗi quốc gia thành viên phải thực hiện các biện pháp lập pháp, hành pháp, tư pháp, hay các biện pháp hiệu quả khác để ngăn chặn các hành vi tra tấn trên bất cứ khu vực lãnh thổ nào thuộc quyền tài phán của mình.

2. Không có bất kỳ hoàn cảnh ngoại lệ nào, cho dù là trong tình trạng chiến tranh, hoặc đang bị đe doạ bởi chiến tranh, mất ổn định chính trị trong nước, hoặc bất kỳ tình trạng khẩn cấp nào có thể được viện dẫn để biện minh cho việc tra tấn.

3. Mệnh lệnh của quan chức hay của cơ quan có thẩm quyền cấp trên không thể được viện dẫn để biện minh cho việc tra tấn.”

CHLB Đức đã ký Công ước chống Tra tấn của Liên Hiệp Quốc vào ngày 13/10/1986 và phê chuẩn vào ngày 1/10/1990. Việt Nam cũng đã ký Công ước chống Tra tấn của Liên Hiệp Quốc vào ngày 7/11/2013 và phê chuẩn vào ngày 5/2/2015.

Cơ sở hiến định thì khá giống nhau. Cơ sở pháp lý quốc tế thì cùng chung. Vậy tại sao khoảng cách thực thi của hai quốc gia lại lớn như giữa thiên đường và địa ngục? Cái khoảng cách siêu vũ trụ ấy hình thành do một sự khác nhau “nho nhỏ”: CHLB Đức đã ký và phê chuẩn thì thực hiện nghiêm chỉnh. Còn CHXHCN Việt Nam thì có ký và phê chuẩn cũng bằng không. Phải chăng chỉ để phục vụ “công tác” đối ngoại? Hay còn phải đợi Chính phủ ban hành nghị định, rồi lại đợi tiếp bộ nào đó ban hành thông tư hướng dẫn, sau đấy mới được phép thi hành?

Đưa vụ án Daschner vào bài viết này để thấy được, cái quan niệm về cách cư xử chuẩn mực đối với người bị bắt, với bị can, bị cáo và tù nhân trên đất Việt khác rất xa so với ở xứ người. Nên cũng đừng đòi người ta phải mặc nhiên thừa nhận những điều mình nghĩ, mình làm. Hơn nữa, nhận thức được tầm hạn chế tư duy của bản thân, để mà điều chỉnh dần, nếu muốn hòa nhập với thế giới văn minh.

Cũng để những ai mang danh thi hành công vụ của Nhà nước CHXHCN Việt Nam nghiêm túc xem lại cách hành xử bấy lâu nay của bản thân và đồng đội.

Và để dân lành đất Việt chạnh lòng bừng tỉnh nhìn nhau: Chúng ta có nên tiếp tục nhẫn nhịn nữa hay không?

 

I.3. Vụ án Haikel S.

 Haikel S. là một tên khủng bố người Tunisia thuộc dòng IS (Nhà nước Hồi giáo). Dưới một cái tên giả, hắn đến Đức và xin tị nạn vào năm 2015. Năm sau, người ta mới phát hiện ra hắn đã từng sống ở Đức trong thời gian 2003 – 2013, đã có tiền án và bị truy nã từ năm 2008. Do bị cáo buộc tham gia tổ chức tấn công Bảo tàng Quốc gia ở Thủ đô Tunis của Tunisia vào ngày 18/3/2015 (giết chết 19 khách du lịch nước ngoài, một cảnh sát và một người dân Tunisia, đồng thời làm bị thương hơn 50 người khác), tháng 9/2016 hắn bị phía Đức tạm giam để chờ dẫn độ, theo đề nghị truy nã của phía Tunisia. Nhưng rồi lại được thả ra, vì phía Tunisia chưa chuyển cho phía Đức lệnh truy nã. Trong khuôn khổ một chiến dịch truy quét với sự tham gia của 1.100 cảnh sát, hắn lại bị bắt vào ngày 1/2/2017, với nghi án chuẩn bị một số cuộc tấn công ở Đức, dưới danh nghĩa ủng hộ tổ chức khủng bố IS và cầm đầu một mạng lưới Hồi giáo cực đoan.

Với một đối tượng quá nguy hiểm như vậy, thì đương nhiên không chỉ giới cầm quyền Đức, mà cả người dân Đức cũng chẳng muốn cưu mang, chứa chấp. Nên đề nghị dẫn độ của phía Tunisia như một cơ hội Trời cho, tất nhiên phải cố mà tận dụng. Tháng 4/2017 Tòa án Hành chính phán quyết được phép dẫn độ hắn về Tunisia, nếu Chính phủ Tunisia đảm bảo hắn sẽ không bị xử tử hình. Vậy là hắn được đưa lên máy bay vào ngày 22/3/2017 để dẫn độ về Tunisia. Nhưng trước khi máy bay cất cánh, hắn lại được đưa ra khỏi máy bay. Lý do ư? Vì hắn mới nộp đơn xin tị nạn (lần thứ hai), do nguy cơ bị tra tấn và lĩnh án tử hình ở Tunisia. Và luật sư của hắn có kiến nghị khẩn, đề nghị tòa án dừng việc dẫn độ. Do đơn xin tị nạn của hắn chưa xử lý xong, nên việc dẫn độ đã bị dừng lại. Sau đó, Tòa án Hành chính Frankfurt am Main đã ra phán quyết: Không được dẫn độ hắn về Tunisia, với lý do phía Tunisia đã không đưa ra cam kết sẽ không xử tử hình hắn.

Phán quyết ấy đã khiến nhiều người Đức bất bình và thất vọng, nhưng không thể bác bỏ cơ sở pháp lý mà thẩm phán đã viện dẫn. Vào lúc mà TXT đã “về đầu thú” ở Hà Nội, chính quyền Bang Hessen vẫn quyết tâm trục xuất Haikel S. Bộ Nội vụ Bang Hessen định dựa trên Điều 58a của Luật Cư trú, cho phép trục xuất người nước ngoài “nhằm phòng trừ nguy cơ đặc biệt đối với an ninh của CHLB Đức hay nguy cơ khủng bố”, mà không cần báo trước. Liệu họ sẽ được toại nguyện hay không? Chưa chắc.

Đây là một ví dụ, cho thấy không phải chính quyền Đức muốn làm việc gì cũng được, kể cả những việc rất chính đáng và cần thiết. Trong một nhà nước pháp quyền đích thực như CHLB Đức, thì chính quyền cũng không thể lấn át tòa án, còn tòa án thì chỉ dựa vào luật pháp để ra phán quyết mà thôi.

 

I.4. Thêm lời chú thích

Có lẽ 3 ví dụ nêu trên khá khó hiểu đối với nhiều người sinh sống ở Việt Nam. Nếu quả như vậy thì tốt, vì mục đích của phần I không phải để mọi người đọc đều hiểu, mà muốn để lại ấn tượng khó hiểu, mặc dù cũng mường tượng được, có lẽ họ có lý của họ. Để làm gì? Để đem lại cho bạn đọc trên đất Việt một cảm giác lạ lẫm, khi bước vào một thế giới pháp lý, mà mình khó tưởng tượng được. Để rồi hiểu ra, khoảng cách pháp quyền giữa xã hội Việt Nam và xã hội Đức không thể hoán đổi từ khoảng cách không gian (khoảng 8.500 km đường hàng không), mà phải dùng đại lượng thời gian (tính theo thập niên), thì mới mong ước đoán được độ chênh lệch giữa hai tầm văn minh pháp quyền. Hiểu thế để thận trọng hơn khi phê phán, phán xét người ta.

Hơn nữa, cái cảm giác “khó hiểu những điều có lẽ có lý” sẽ giúp ta nhận ra, mình phải cần mẫn học hỏi, dày công nghiên cứu, thì mới có thể tiếp cận phần nào kiến thức mênh mông. Rồi sử dụng Google mà tìm kiếm thông tin cần thiết trên Internet, để trả lời những câu hỏi nảy sinh. Chẳng hạn:

(1)   Với tư cách ba cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của Liên bang Đức, tại sao Quốc hội, Hội đồng Liên bang và Chính phủ Liên bang Đức không tự mình ra quyết định cấm NPD hoạt động, mà lại phải kiến nghị điều đó với Tòa án Hiến pháp Liên bang, để rồi không được chấp nhận?

(2)   Quốc hội có quyền sửa đổi hiến pháp theo ý mình, thì tại sao lại chịu khoanh tay, để Tòa án Hiến pháp Liên bang dựa trên hiến pháp hiện hành để bác bỏ cả kiến nghị của chính Quốc hội?

(3)   Tại sao Tòa án Hiến pháp Liên bang Đức lại không chấp nhận kiến nghị cấm NPD hoạt động (mặc dù bản thân Tòa án cũng xác định NPD là vi hiến, có bản chất gần với Chủ nghĩa Xã hội Dân tộc)?

Thôi, không đặt thêm câu hỏi nữa, cũng không đưa ra câu trả lời, kẻo lại tước mất niềm vui khám phá của mọi người, khi tự mình phát hiện ra vấn đề, đặt ra câu hỏi, và tự tìm ra câu trả lời. Để rồi dần dần ngộ ra những chân lý ẩn sâu nơi thăm thẳm.

Trong nhà nước pháp quyền thì tất thảy đều phải tuân theo hiến pháp. Nhưng hiến pháp phải xứng đáng là hiến pháp, quy định những nguyên tắc hợp lý và cơ chế tinh vi, để đảm bảo cho bộ máy xã hội vô cùng phức tạp có thể vận hành an toàn trong hầu hết mọi trường hợp. Muốn thế, bản hiến pháp ấy phải được viết ra bởi giới tinh hoa, những trí tuệ kiệt xuất, có đủ hiểu biết cần thiết và tầm nhìn xuyên thế kỷ, để hiến định không chỉ hiện tại mà cả tương lai trăm năm của đất nước (xem ví dụ minh họa ở Phụ lục P1). Chứ không phải được áp đặt bởi thế lực đương quyền. Cũng không phải được nhào nặn thêm bớt bởi những ông bà mới lõm bõm về kiến thức luật học và còn ngây ngô về tư duy quản lý nhà nước, vốn được chọn cho đủ màu để tô vẽ bức tranh dân chủ. Một bản hiến pháp cao siêu như vậy tất nhiên sẽ chứa đựng những điều khoản khiến nhiều người thấy khó hiểu, hoặc khó chấp nhận hệ quả thực tế của chúng.

Có một vấn đề cần được khẳng định trước khi kết thúc phần này, kẻo lại nảy sinh suy luận không đúng (từ phán quyết của Tòa án Hiến pháp Liên bang Đức về việc không cấm NPD hoạt động), rằng bọn cực hữu có xu hướng phát xít, mà chính quyền Đức còn dung túng bao che, huống hồ loại tham nhũng như TXT. Không, không thể cho rằng Nhà nước Đức không tích cực chống phong trào cánh hữu cực đoan có xu hướng phát xít. Nếu không tích cực, thì họ đã không kiến nghị cấm NPD hoạt động đến hai lần.

Để bớt chút băn khoăn, có thể tham khảo ví dụ nhỏ sau đây. Ngày 5/8/2017, cảnh sát Đức đã bắt hai khách du lịch người Trung Quốc (36 và 49 tuổi) và phạt mỗi người 500 Euro (hơn 13 triệu đồng Việt Nam), do phạm vào tội được quy định tại Điều 86a Bộ luật Hình sự Đức: Sử dụng biểu tượng của các tổ chức vi hiến. Tại sao? Khi hai tiên sinh dùng điện thoại thông minh để chụp hình trước tòa nhà Reichstag (Nhà Quốc hội), họ đã cao hứng duỗi tay biểu diễn kiểu chào Hitler (Hitlergruß). Và đó là một hành vi vi phạm Điều 86a Bộ luật Hình sự Đức.

(tiếp phần II)

Một số điều cần trao đổi nhân vụ Trịnh Xuân Thanh (I)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *