Một đòi hỏi quá lớn cho người công giáo

 

 

Kilian Martin

(www.katholisch.de, ngày 13.03.2017)

 

Với lời chào „Chúc mọi người một buổi tối an lành“ („Buono sera“) trong chiều tối ngày 13 tháng 3 năm 2013 từ bao lơn nhà thờ thánh Phê-rô của vị tân Giám Mục giáo phận Roma, người ta linh cảm là sẽ có một ngọn gió mới thổi lên Giáo Hội. Lời chào xem ra tầm thường, nhưng nó nói lên nền tảng chính sách trong toàn bộ nhiệm kì của ngài. Dĩ nhiên không phải nơi mấy chữ nói ra, nhưng nơi cảm giác mà ngài đã thông truyền cho Giáo Hội hoàn vũ trong lúc nói câu đó: Tôi đây cũng là một Ki-tô hữu như các bạn.

 

Phan-sinh dễ mến, Biển-đức học giả

 

Ngay trong lời chào này cho thấy sự trái ngược giữa một Phan-sinh dễ mến và vị tiền nhiệm của ngài là học giả Biển-đức. Chính sự hiện diện của Biển-đức đã khiến cho Phan-sinh tới nay vẫn gặp khó. Là vì suốt bốn năm qua người ta không ngừng chỉ trích ngài bất cập về mặt thần học. Theo họ, vị Giáo Tông này chỉ chuyên chú vào chương trình mục vụ, nhưng thiếu nền tảng thần học cho chương trình đó. Tuy nhiên họ đã không hiểu rằng, Phan-sinh đã khoác cho thần học của mình một lô-gích mới. Ngài mở ra một cuộc toàn cầu hoá đức tin. Qua việc hạn chế đưa ra những giáo huấn mới, đặc biệt ít đi vào những huấn giáo chi tiết, ngài thúc đẩy việc cá nhân hoá đức tin.

Như vậy, không phải Phan-sinh từ chối thi hành năng quyền giáo huấn của một giáo tông. Trái lại, dựa vào quyền bính tông đồ của mình, ngài cho thấy, mình không cần phải quy định thêm gì nữa những gì đã được quy định. Không đâu cho thấy rõ điều này như qua những tranh luận xung quanh „Amoris laetitia“. „Đó là giáo huấn chắc chắn“, Giáo Tông đã trả lời như thế cho những ai cáo buộc ngài đã vượt ra ngoài vòng quy chuẩn hiện hành. Qua câu trả lời đó, ngài xác nhận rõ ràng: Điều gì trước đây đúng, thì nay vẫn tiếp tục đúng.

Ở các chỗ khác, Phan-sinh cũng cho thấy, là những chương trình của ngài cần được hiểu như là một nối tiếp những gì đã có trước đây: Về vấn đề phong chức linh mục cho phụ nữ, ngài nhắc lại sự từ chối rõ ràng của giáo tông Gio-an Phao-lô II; về thái độ của Giáo Hội đối với giới đồng tính, ngài bảo hãy tham khảo trong sách giáo lí; về chuyện rước lễ chung với Tin Lành, ngài bảo giáo luật đã quy định rồi. Trước tất cả những vấn đề đó và các đề tài nóng khác, ngài đã có sẵn câu trả lời theo giáo huấn; ngài chẳng cần phải làm gì thêm.

Thần học của Phan-sinh không chủ yếu đặt căn bản trên năng quyền giáo huấn của người lãnh đạo Giáo Hội hoàn vũ. Ngài nói rõ, giáo huấn đã có, không cần phải lặp lại nữa. Đúng hơn, ngài động viên Ki-tô hữu trên khắp thế giới, bằng cách kêu gọi họ hãy dùng khả năng riêng và nhất là dùng trách nhiệm riêng của mình để trả lời cho những vấn nạn đức tin. Đấy là chương trình thần học của ngài. Việc thảo luận câu ghi chú trong thông điệp „Amoris laetitia“ (một số trường hợp li dị tái hôn có thể được rước lễ. Người dịch) cũng thuộc vào chương trình thần học đó. Chỉ những ai nghĩ rằng, Phan-sinh không còn đi theo truyền thống giáo huấn của Giáo Hội nữa, mới cho đó là chứng cớ cho một cuộc từ giã. Nếu không, thì họ cũng phải công nhận rằng, đấy là một lời yêu cầu mỗi tín hữu phải tự suy nghĩ và hành động sao cho phù hợp, như Phan-sinh đã nhiều lần nói rõ điểm này. Là vì toàn bộ tông thư của ngài vẫn nhắc đi nhắc lại về phẩm giá con người và về sứ mạng tình yêu ki-tô giáo. Đúng là một trớ trêu của lịch sử, khi một tông thư chất chứa nhiều nội dung nhất về mặt thần học cho tới nay của vị Giáo Tông đương nhiệm lại bị coi là tài liệu minh chứng cho sự bất cập thần học của ngài.

 

Khác hẳn với các vị tiền nhiệm

 

Tuy nhiên nhiệm kì giáo tông của Phan-sinh rõ ràng là một thách đố cho các tín hữu công giáo. Ngài hành xử hoàn toàn khác với các vị đi trước. Không như một thủ lãnh uy quyền Gio-an Phao-lô II; không như một học giả minh triết như Biển-đức XVI. Những ai muốn giáo tông mình là một lãnh tụ của Giáo Hội hoàn vũ, những người đó hẳn thất vọng. Phan-sinh ý thức rất rõ vai trò giáo tông của mình và hành xử nó cũng với đầy ý thức.

Phan-sinh chủ trương một thần học đặt nặng trách nhiệm cá nhân và thần học này quả không dễ cho các tín hữu. Hay nói khác đi: Ngài khuyến khích Ki-tô hữu hãy can đảm sống đạo một cách trách nhiệm. Lời khuyến khích đó đã được thể hiện hùng hồn qua tông huấn „Niềm Vui Tin Mừng“ được phổ biến sau tám tháng nhận chức, trong đó ngài yêu cầu Giáo Hội phải bước ra đi tới những vùng biên. Quả là khó nghe, khi ngài đòi buộc Giáo Hội phải gần chiên của mình. Nhưng đòi hỏi của Tin Mừng không chấm dứt ở đó. Chính mỗi Ki-tô hữu phải tự đưa Giáo Hội bước vào con đường mới đó. Trễ nhất cho tới tông thư này ta thấy rõ một điều: Đã qua rồi cái thời đàn chiên chỉ biết đứng đó chờ lệnh để đi theo mà thôi.

Với thông điệp „Laudato si“ Phan-sinh đòi buộc không chỉ người công giáo, mà cả toàn thể nhân loại phải có trách nhiệm đối với tạo vật và như vậy con người phải trân trọng lẫn nhau. Những lời lẽ rõ ràng của ngài về sự phá hoại môi sinh và về một nền kinh tế thù nghịch với con người làm chói tai nhiều nhà chính trị và quản trị. Ngoài ra từ đầu nhiệm kì, giáo tông Phan-sinh cũng đã đưa việc cải tổ giáo triều lên thành một mục tiêu chính của mình. Trước đây Biển-đức XVI cũng đã nhận ra những bất cập của bộ máy hành chánh. Nhưng vị Giáo Tông mới đã làm đảo lộn tất cả ngay tại trung tâm của Giáo Hội. Chương trình dọn sạch phe đảng, âm mưu tranh giành và các thứ dơ bẩn khác ở giáo triều được tiến hành theo phương châm thần học này của ngài: Phẩm cấp (Hierachie) không còn đương nhiên có ưu quyền trên cá nhân.

Nhưng cải cách giáo triều cũng cho thấy mặt trái khó khăn của chương trình này, bởi vì không ít người cảm thấy nó quá tải đối với họ. Ở nhiều chỗ, cải cách có những bước đi rất chậm, do sự chống đối nội bộ. Nhưng bảo rằng, chậm là vì các vị trong giáo triều không muốn mất đi những gì họ đang có, thì cũng quá đơn giản. Là vì điều ta ít thấy được nơi chương trình cải tổ hành chánh, thì đã rõ ràng nơi các phạm vi khác: Chương trình thần học của giáo tông Phan-sinh đã mở ra những cánh cửa tự do, mà muốn khép lại, đòi hỏi phải có lực và nhiều cố gắng.

 

Đâu là nội dung thảo luận?

 

Chẳng hạn như sự gợi ý của Giáo Tông về vấn đề trao chức phó tế cho nữ giới (*). Trong khi rõ ràng không chấp nhận phong chức linh mục cho phái nữ, thì xem ra ngài lại mở cánh cửa phó tế cho họ. Ước mong của ngài là mở ra một cuộc thảo luận rộng rãi và thoải mái. Nhưng ở đây cũng như ở nhiều chỗ khác, nhiều người lại không hiểu đâu là nội dung mình cần thảo luận. Những cuộc thương thảo nhằm đưa các giáo sĩ nặng truyền thống thuộc Huynh Đoàn Pi-ô trở về lại với Giáo Hội cũng thế, người ta không biết được rồi sẽ tới đâu. Thay vì đặt nặng các vấn đề thần học, như vị tiền nhiệm Biển-đức XVI trước đây, Phan-sinh mở ra cánh cửa lòng thương xót; với hậu quả là khó có được những kết quả cụ thể.

Với lối hiểu mới của mình về ngôi vị giáo tông, Phan-sinh đã đặt Giáo Hội trước một thách đố. Nhưng thách đố này quả hợp thời. Thời đại hôm nay, không chỉ trong lãnh vực chính trị mà thôi, không còn thực tế hai cực nữa. Trong một thế giới vừa toàn cầu hoá vừa cá nhân hoá hiện nay, cả Giáo Hội cũng không thể trụ mãi trên những biên giới cứng ngắc giữa đúng và sai được; chính đa số Ki-tô hữu cũng sống ở đâu đó giữa hai biên giới này. Giáo tông Phan-sinh diễn dịch điều đó vào thần học theo lối của ngài: Không quá nặng tín lí mà cũng không quá tự do thả lỏng, nhưng ở đâu đó giữa hai thái cực.

 

—- // —-

 

(*) Về chuyện trao chức phó tế cho phụ nữ, giáo tông Phan-sinh đã trả lời rõ hơn qua cuộc phỏng vấn của chủ bút tuần báo Die Zeit đầu tháng 03 năm 2017. Đây là lần đầu tiên Giáo Tông trả lời phỏng vấn của một tờ báo Đức. Toàn bộ nội dung phỏng vấn đăng trên Die Zeit số 11, ngày 09.03.2017.

 

DieZeit: Hồng Y Gianfranco Ravasi, Chủ Tịch Hội Đồng Văn Hoá sáng nay nói với Thông Tấn Xã Công Giáo: phong chức phó tế cho phụ nữ, theo ông, là điều có thể xẩy ra. Hồng Y đã có bàn với Ngài trước về chuyện này?

Phan-sinh: Tôi muốn nói cho ông rõ những gì thực sự đã xẩy ra, vì – tôi nói với tất cả sự quý trọng – các tin tức thường bị sàng lọc bởi các phóng viên. Câu chuyện như vầy: Khoảng một năm trước đây tôi mời tất cả bề trên các ḍng nữ về họp. Họ đã tới và tôi đã đề nghị với họ là ngồi trao đổi với nhau, thay vì đọc diễn văn khách sáo, bởi tôi cũng chẳng còn gì để đọc. Vì thế đã có một cuộc đối thoại phong phú và ấm cúng. Có một câu hỏi của họ, tôi nhắc lại gần như nguyên văn: Xem ra trong Giáo Hội sơ khai đã có các nữ phó tế. Tại sao chúng ta không lập một uỷ ban nghiên cứu, để xem các nữ phó tế đó đã làm gì và họ có được tấn phong hay không? Tôi trả lời: Đúng, tại sao không? Đây có lẽ là dịp tốt để chúng ta tìm hiểu đề tài này. Họ đưa ra cho tôi một điều kiện: Tôi phải nói chuyện với hồng y Müller (Trưởng Bộ Đức Tin). Tôi gọi chị Bề Trên và hồng y Müller, và nói: Hãy gởi cho tôi một danh sách mười người, nam và nữ, để tôi đưa vào uỷ ban. Và tôi đã rất thông thoáng chọn từ hai danh sách đó một uỷ ban gồm những người có khả năng. Mục đích là để nghiên cứu vấn đề, chứ không phải mở một cách cửa.

DieZeit: Tới nay, các chuyên viên đã đạt được gì?

Phan-sinh: Một giáo sư người Si-ri cho biết: Vấn đề không phải là các nữ phó tế thời đó có được tấn phong hay không, mà chỉ biết là họ đã làm gì. Ông kể ra ba việc: Các bà giúp trong việc rửa tội, xức dầu phụ nữ đau ốm và khi có một phụ nữ nào tố cáo với giám mục là mình bị chồng đánh, giám mục sẽ gởi một nữ phó tế tới để xem xét vết bầm nơi người đàn bà bị đánh. Để xem uỷ ban có tìm thêm được gì không. Tháng ba này uỷ ban sẽ nhóm lần thứ ba, tôi sẽ ghé để tìm biết thêm kết quả.

 

– Về giải pháp đối phó với chuyện khan hiếm linh mục tại Âu châu:

DieZeit: Còn chuyện „Viri probati“, những người „đàn ông đáng tin cậy“; có thể phong chức linh mục cho họ không? Họ là những người đã lập gia đình, nhưng có cuộc sống gương mẫu theo các tiêu chuẩn công giáo và đã được phong phó tế.

Phan-sinh: Chúng ta phải suy nghĩ xem Viri probati có thể là một lối giải quyết không. Rồi chúng ta cũng phải xác định, họ có thể nhận những công tác nào, chẳng hạn như phụ trách  trong các giáo xứ xa xôi.

 

– về chuyện hồng y Raymond Burke.

DieZeit: Hồng y bảo thủ người hoa-kì Raymond Burke, một trong những khuôn mặt chống lại ngài mạnh mẽ nhất ở Vatican, vừa được ngài phái đi Guam, tới một hòn đảo đâu đó trong biển Thái Bình – có người bảo: ông ấy bị đày.

Phan-sinh: Tôi không cảm nhận hồng y Burke là người chống lại tôi…. Hồng y Burke tới đó là vì một chuyện khủng khiếp vừa xẩy ra. Tôi phải rất cám ơn ông về chuyến đi, ở đó vừa có một vụ lạm dụng tồi tệ, và ông ấy là một luật gia xuất sắc; nhưng tôi tin nhiệm vụ đó đã gần xong rồi.

DieZeit: Có một truyện kể ra thì khá rắc rối dài dòng, nhưng có thể rút gọn lại như sau: Dòng Malteser được lãnh đạo bởi một vị Tổng Viện Trưởng người đức, ông Albrecht von Boeselager. Người ta tố cáo ông đã không ra lệnh cấm việc phát bao ngừa thai trong một chương trình cứu trợ tại Miến-điện. Vì thế ông đã bị một đàn em của hồng y Burke cách chức. Chính ngài đã rút lại quyết định đó và thay vào đó đã yêu cầu người đàn em của Burke từ chức.

Phan-sinh: Chuyện của Dòng Malteser đúng hơn là vì hồng y Burke đã không thể giải quyết được, vì ông ấy không còn quyết định một mình nữa. Tôi đã không thu hồi tước Patronus (Quan Thầy) của ông. Ông vẩn là Patronus của Dòng; nhưng đây là chuyện phải làm sạch một ít trong Dòng, nên tôi đã cử một đại diện khác tới, vị này có một đặc sủng khác hơn hồng y Burke.

 

Người dịch: Phạm Hồng-Lam

 

 

Bốn Năm Của Giáo Tông Phan-sinh

One thought on “Bốn Năm Của Giáo Tông Phan-sinh

  • 5. April 2017 at 8:15
    Permalink

    Chúa Thánh Thần đang tác động trên triều đại của Giáo Tông Phan-Sinh,Ngài đang thực thi ý Chúa hơn ý của con người.Ngài kêu gọi Kito hữu thực hành lời chúa qua cách sống chứ đừng giảng tin mừng suông . . . . . .Mỗi thời đại đều có những biến chuyển và đổi mới càng làm cho Giáo Hội trở nên hoàn hảo như Cha ở trên trời.Chúng ta nên lắng nghe và phó thác vào bàn tay nhân lành của Chúa hơn là xét theo ý riêng.Học hỏi,trao đổi,cầu nguyện hãm mình ,bố thí trong mùa Phục sinh cùng cầu nguyên theo ý Giáo Tông là con đường tốt đẹp nhất và ngắn nhất . . . .Xin cho chúng con lên một . . . . . . . Amen./-

    Reply

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *