Ngày Xuân Tản Mạn Chữ THỜI

 

 

Trước đây, ở miền Nam Việt Nam, triết gia Kim Định có viết cuốn sách với nhan đề ngoài bìa: „Chữ Thời“. Tôi chưa đọc, nên không hiểu tác giả luận bàn những gì trong đó. Nay nhân đọc một bài báo có nhắc tới khái niệm „Thời“ ( hay „Thời gian“) của Hi-lạp, tôi muốn mạn đàm giải khuây cùng quý độc giả, nhân dịp Xuân về.

Nhưng trước hết – Thời / Thời gian (Time, Temps, Zeit) có nghĩa là gì? Một í niệm rất thông dụng, nói tới ai cũng hiểu, nhưng quả thật không dễ định nghĩa.

Đại từ điển Wahrig tiếng Đức định nghĩa Zeit (Thời, Thời gian) là diễn tiến của biến cố đang xẩy ra (Ablauf des Geschehens), là sự tiếp nối nhau của trải nghiệm (Nacheinander des Erlebens)…  Bên cạnh Thời (gian), ta có Không (gian); hai khái niệm này thường đi đôi với nhau. Không gian chỉ nơi biến cố xẩy ra; Thời gian chỉ lúc (thời điểm) biến cố xẩy ra.

Nhưng đối với người Hi-lạp xưa, có nhiều loại Thời / Thời gian. Không phải thời gian nào cũng giống như thời gian nào. Có những thời điểm hay khoảnh khắc thời gian đặc biệt, có một không hai, nó làm thay đổi cả một đời người hay làm xoay chuyển cả một vận hội. Nhưng cũng có những chuỗi thời gian ngày ngày, tháng tháng, năm năm cứ qua đi mà chẳng tạo ra một biến chuyển nào cả cho vận mạng cá nhân, quốc gia hay thế giới. Các triết gia Hi-lạp xưa đặt tên cho cái Thời gian đặc biệt và có một không hai đó là Kairos. Còn thứ Thời gian bình lặng trôi kia là Chronos.

Tương đương nghĩa với „Chronos“, tiếng Việt có „Thời gian“. Còn „Kairos“ cùng nghĩa với „Thời“. Kairos thảng hoặc cũng có nghĩa là „Thời cơ“ (trong Thời hàm sẵn một Cơ hội) hay Thời thế (trong Thời hàm sẵn Thế).

 

Những bộ mặt của Thời

 

Kairos xuất hiện dưới nhiều dạng hình.

Nó là tiếng sét ái tình biến hai người lạ nên duyên. Nó là giây phút „ngộ“ trong tôn giáo. Là thời khắc đạt hạnh phúc cuộc đời, nếu nắm được đúng lúc, như chữ „Bonheur“ của Pháp diễn tả (Bonheur có nghĩa là „hạnh phúc“; chữ này gồm Bonne: tốt; Heure: giờ). Nó là một sáng kiến đầu tư kịp thời khiến cuộc đời lên hương. Hay đó cũng là lần trúng số độc đắc khiến mình đổi đời…. Ngày nay, nó là những cú nhấn nút bàn phím vi tính trong văn phòng các trung tâm chứng khoán; một cú nhấn trong tích tắc có thể làm phá sản cả một công ti hay một ngân hàng, có thể kéo theo hậu quả đảo điên cho thế giới.

Tiếng hát trên sông trong đêm vắng của Trương Chi đã làm điêu đứng Mị Nương, kéo theo cái chết thương tâm của anh lái đò. Cuộc cướp chính quyền từ tay nhân dân của đảng cộng sản việt nam ngày 19.08.45 là thời điểm mở đầu cuộc nô lệ hoá của cả một dân tộc, mà tới nay sau gần 70 năm dân tộc này vẫn chưa có được lối ra. Quyết định „tái cấu trúc“ (Perestroika) của chủ tịch Michael Gorbachov ở Liên-xô đầu năm 1986 đã làm biến đổi cục diện toàn thế giới. Hay như mới đây, chỉ một câu ví von đã khiến cho một vị bộ trưởng ở Tây-ban-nha trong phút chốc trở thành thân bại danh liệt. Trước câu hỏi của một phóng viên, hình như liên quan tới vụ hiếp dâm tập thể đưa đến cái chết của cô sinh viên ở Ấn-độ, ngài bộ trưởng được đà phóng ra một tư tưởng thật hay: „Phụ nữ cũng giống như luật pháp, luật làm ra là để người ta vi phạm“!  Có ngờ đâu câu nói đã là căn nguyên cho những cơn sóng cuồng nộ sấm sét của các chị em; họ kết án câu đó là sự miệt thị quá độ nữ giới. Kết quả: ngài bộ trưởng phải xách gói về vườn. Hoặc như cuộc gặp gỡ của Aline Rebeaud, cô hoạ sĩ 20 tuổi người thuỵ-sĩ đang trên đường ngao du thế giới, với một thiếu niên 10 tuổi đang nằm co ro run bần bật vì đói ở một góc tường, vào một đêm năm 1992 tại Sài Gòn. Lòng trắc ẩn từ đó đã dẫn cô tới trung tâm điều trị bệnh tâm thần ở Thủ Đức. Ở đó cô gặp một bé trai mồ côi không rõ họ tên chừng 13 tuổi bị thiểu năng trí tuệ, suy tim, ứ nước ở phổi và ghẻ lở khắp người. Không thể để nó chết, cô ôm thằng bé đến bệnh viện, tự bỏ tiền điều trị, nuôi ăn chăm sóc suốt 3 tháng trời. Sau khi em phục hồi sức khỏe, cô đem nó về chung sống với mình trong một căn nhà thuê ở khu Bình Hưng Hòa. Và từ đó, cô gái yêu đời quên hết lối về quê cũ, quên luôn cả tương lai chính cuộc đời mình. Cô ở lại, trở thành „Mẹ Tim“, cưu mang những mảnh đời tật nguyền bất hạnh ở Việt Nam.

Ta bảo, ngài bộ trưởng „hết Thời“. Đảng cộng sản việt nam „gặp Thời“, vì từ dạo ấy tới nay họ vẫn được cưỡi trên đầu trên cổ dân Việt và vẫn được tiếp tục độc quyền vơ vét chia nhau tài sản quốc gia. Trương Chi – Mị Nương „không gặp Thời“. Gorbachov vừa „gặp Thời“ vừa „không gặp Thời“. Gặp Thời, vì quyết định của ông đã giải cứu được bốn trăm triệu người Nga và Đông Âu; không gặp Thời, vì quyết định đó đã đưa ông tới thân bại danh liệt. Còn Aline, đã „gặp Thời“, „không gặp Thời“ hay „hết Thời“?

Thời, tự bản chất, vô thưởng vô phạt; nó không bênh ai mà cũng không hại ai; nó được đánh giá hay nhận thức tuỳ quan điểm và góc nhìn.

 

Trong lĩnh vực tôn giáo, Kairos lại càng rõ nét. Thử xem vài thí dụ.

André Frossard vốn là một người vô thần có hạng. Cha anh là người đồng sáng lập viên Đảng Cộng Sản Pháp. Ngày 8 tháng 7 năm 1935, lúc 20 tuổi, anh bước vào một nhà nguyện trên đường Rue d´ Ulm trong khu la-tinh Paris để tìm bạn. Anh bước vào như một kẻ vô thần lúc 17 giờ 10 phút, lúc 17 giờ 15 phút bước ra thì anh đã là một Ki-tô hữu! Anh kể, thoạt tiên anh lướt mắt qua những người đang cầu nguyện để tìm bạn, bỗng đôi mắt anh dừng lại nơi ngọn nến thứ hai phía bên trái thập giá: „không phải ở ngọn thứ nhất, cũng không ở ngọn thứ ba, mà ngay ngọn thứ hai…“ Và chính lúc đó sự lạ xẩy ra. Thoát chốc anh bỗng nhận ra „sự hiển nhiên của … Con Người, Con Người mà trước đó một giây tôi còn phủ nhận, Con Người mà Ki-tô hữu gọi là Cha chúng con“. Frossard nhận phép rửa, trở thành một trong những nhà văn và kí giả nổi tiếng nhất nước Pháp, năm 1987 được bầu vào Hàn Lâm Viện Pháp, và mất vào năm 1995 ở tuổi 80 như một tín hữu công giáo xác tín.

Edith Stein (1891-1942) tới gõ cửa nhà của một đồng nghiệp thiết thân vừa mới mất. Một phụ nữ trẻ vui vẻ mở cửa, mỉm cười với khách. Edith muốn tới chia buồn với người quả phụ. Nhưng thay vì chia buồn, thì lại được nghe những lời ủi an của người quả phụ. Chủ nhà kể cho Edith nghe nỗi buồn của mình, nhưng chị chấp nhận sự đau đớn này với niềm xác tín rằng, chồng chị nay đang được diễm phúc ở bên Chúa. Chị là một Ki-tô hữu. Edith là một cô gái gốc do-thái, một thanh nữ vô cùng thông minh và tân thời, một triết gia vô thần đầy tự tin. Nhưng từ ngày gặp người quả phụ, tâm cô trở nên bất an. Làm sao trước một mất mát khủng khiếp như thế mà người ta có thể bình tĩnh và thanh thản được như kia?

Sau đó ít lâu, Edith được một bạn gái mời tới nhà chơi và ở lại qua đêm. Tối đến, bạn còn giới thiệu với cô phòng thư viện gia đình, và bảo cứ tự nhiên muốn đọc gì thì lấy mà đọc. Tình cờ cô cầm lấy cuốn tự thuật của thánh Tê-rê-xa ở Avila. Và đọc nó cũng một cách thật tình cờ. Đọc thâu đêm. Cuốn sách là một lời tự thú khá khô khan về đức tin riêng tư của một người đàn bà. Về sau, Edith cho hay: Sáng sớm ra, khi giã từ nhà bạn, cô chẳng còn là vô thần nữa. Cô quyết định xin nhận phép rửa, trở thành nữ tu dòng Kín và đã chết trong trại tập trung của Quốc-xã Đức. Edith được Giáo Hội nâng lên bàn thánh năm 1998.

Edith Stein „gặp Thời“? André Frossard „gặp Thời“? Cũng như anh thanh niên hoang đàng An-tịnh (Augustinus) đã gặp Kairos, khi bữa đó ghé chơi nhà bạn, bỗng nghe tiếng hô của một em bé nhà bên cạnh: „Cầm lấy! Đọc đi“. Ông giáo trẻ An-tịnh nặn óc mãi mà vẫn không hiểu ra mấy đứa trẻ đang chơi trò gì. Nhưng rồi anh làm theo tiếng con trẻ, ngước lên, thấy cuốn Kinh Thánh trên kệ, mở ra gặp ngay đoạn của tông đồ Phao-lô: „Chúng ta đừng sống trong ăn uống say sưa và cãi vã, nhưng anh em hãy tới với đức Ki-tô và đừng để xác thịt làm cớ cho những ham muốn của mình“. Về sau, An-tịnh kể trong cuốn „Tự Thú“ của mình: „Tôi chẳng muốn mà cũng chẳng cần đọc tiếp nữa. Vừa đọc xong câu đó, hồn tôi bỗng sáng lên và vững tin, và mọi ngờ vực tan biến“. Cho tới lúc đó, Kinh Thánh là loại sách quá tầm thường, chẳng đáng để cho vị giáo sư 32 tuổi đọc. Vậy mà nó đã quật ngã anh chỉ trong giây phút và biến anh thanh niên ăn chơi thành vị thầy lớn nhất nhì của Giáo Hội.

 

Thời tới tình cờ?

 

Nhưng đây là câu hỏi quan trọng: Phải chăng Kairos / Thời là điều ta có thể gặp bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu, nghĩa là nó có thể đến với ta một cách bất ngờ như du kích hay công an cộng sản?

Những sĩ quan, công chức của Việt Nam Cộng Hoà trước đây có ai biết lệnh tập trung học tập vài ba ngày cũng có nghĩa là bản án tù vài ba chục năm, đối với nhiều người cũng là chuyến đi giã biệt cuộc đời đâu! Có ai biết trước được lần xổ số sắp tới mình sẽ trúng lô độc đắc! Việc „cướp“ chính quyền ngày 19.08.45 của nhóm cộng sản ở Hà Nội là chuyện rất tình cờ, chứ có kế hoạch chương trình gì đâu! Ai tính trước được tiếng sét ái tình! Vâng, thoạt nhìn thì đúng như thế: Thời tới hay nó diễn ra một cách tình cờ. Nhưng có phải thật như thế không?

Để trúng số, thường người ta đã phải nuôi, phải theo từ lâu, có khi hàng chục năm với bao nhiêu tiền đã bỏ ra. Đành rằng trong đời vốn có những biến cố mà chúng ta gọi là phép lạ; khoa học thì muốn đẩy những biến cố này vào lãnh vực lượng tử (Quandttheorie), nghĩa là coi chúng như những tình trạng đột biến vượt ra ngoài định luật vận hành của vật chất. Nhưng phép lạ là trường hợp ngoại lệ, chẳng có nhiều. Còn tiếng sét ái tình? Kim Trọng là một trang công tử, một văn nhân tiếp xúc rộng. Chắc chắn anh đã gặp nhiều anh thư đài các, đã được nghe nhiều ngón đàn lả lơi. Nhưng tại sao ngón đàn lúc đó, vào hoàn cảnh đó và đêm đó của Thuý Kiều lại chao đảo lòng anh? Tại sao giữa bao nhiêu khuôn mặt, bao nhiêu ánh mắt thơ ngây mà mình lại bị rung động bởi một ánh mắt, bởi một khuôn mặt chẳng có gì trổi vượt hơn các khuôn mặt khác? Tâm Lí Học có câu trả lời như sau: Thật ra mỗi người chúng ta đều mang sẵn trong mình một khuôn mẫu lí tưởng, đó là hình ảnh kết tinh từ những kinh nghiệm hay mơ ước cá nhân đọng sẵn từ lâu trong đầu. Khi thấy cái vung vừa vặn hoặc khớp với cái nồi trong đầu mình (dù bên cạnh đó có những cái vung đẹp hơn nhưng không vừa), thì lúc đó mình bị sét đánh, thế thôi. Hẳn quý vị đã một – hay nhiều – lần nghe những câu bình đại loại: Con mẹ ngon lành như thế mà lại lấy thằng cha lựu đạn như thế, hoặc ngược lại. Sét không đánh bậy, nó đánh có chọn lựa. Cũng thế, sở dĩ An-tịnh ngộ trước một câu nói gần như tầm thường của Phao-lô, là vì tư tưởng đó đã bất ngờ giải mã cho bao nhiêu nghi vấn và xao xuyến từ lâu đang xâu xé lòng anh.

Như vậy tắt lại, Thời không phải là kết quả của một khoảnh khắc, nó không phải là cái gì trên trời đột nhiên rơi xuống. Mà nó là giọt nước làm tràn li. Nếu trong li chưa đầy thì thêm một giọt nữa cũng không tràn. Nói khác đi, nếu không ở trong tư thế đi tìm hay chờ đợi, ta sẽ chẳng „gặp“ Thời, dù nó sờ sờ trước mặt ta. Và một khi nó qua đi, thì ta „hết“ Thời. Nếu không sẵn quan tâm, thì dù thấy một trăm trái táo rơi, Archimedes cũng chẳng vừa tông ngông chạy (quên cả quần áo) vừa la óm tỏi trên đường „Heureka“ (Tôi đã tìm ra rồi)!

Có những cái Thời chưa rõ nét, khi chúng tới. Nó thiếu tính đột ngột nơi „cú sét ái tình“, thiếu chất dứt khoát nơi việc „ngộ“. Nhưng nó làm cho tâm ta từ đó bất an, cho tới khi ta tìm ra đáp số.

Năm lên 21 tuổi, khi đang học Triết Học, Thần Học và đàn phong cầm, Albert Schweitzer (1785-1965) „gặp“ Thời. Về sau ông kể: „Năm 1896, hôm đó là một buổi sáng mùa hè rạng rỡ, tôi đang nghỉ học dịp lễ Thánh Thần Hiện Xuống… Vừa mở mắt thức dậy, í nghĩ sau đây chợt đến với tôi: Tôi không được coi nỗi hạnh phúc mình đang hưởng là chuyện đương nhiên, mà phải cho đi một cái gì để đền bù lại. Đang nằm rốn trên gường để tìm hiểu thêm về í nghĩ kia, trong khi ngoài trời vang vang tiếng chim hót, tôi tự hẹn với lòng, mình có quyền sống với khoa học và nghệ thuật cho tới năm ba mươi tuổi, ngay sau đó sẽ quay ra phục vụ con người“. Anh lần lượt lấy tiến sĩ triết học, tiến sĩ thần học, trở thành mục sư, giảng sư thần học, một nhà nghiên cứu nghệ thuật nổi tiếng và tay đàn đại phong cầm cự phách. Bao nhiêu công trình nghiên cứu triết học, thần học và âm nhạc đã đưa tên tuổi anh ra thế giới. Nhưng anh vẫn thấy thiếu một cái gì. Đang dạy Thần Học, anh xin học tiếp I Khoa và trình luận án tiến sĩ năm 37 tuổi. Tốt nghiệp xong, anh lên đường sang châu Phi, lập bệnh viện trong rừng già đầu tiên tại Lambaréné ở Gabun. Schweitzer được coi là thần tượng nhân bản của Âu châu trong thế kỉ 20 qua hành động mở bệnh biện phục vụ con người đó. Và giải Nobel hoà bình 1952 trao cho ông cũng vì hành động phục vụ nhân quần vô vị lợi này. Schweitzer „gặp Thời“ năm 21 tuổi, phải đợi 16 năm sau cái Thời đó mới hiện hình rõ nét.

 

Văn hoá Việt – Hi cộng thông?

Và giờ đây là câu hỏi liên quan tôi muốn luận bàn với quý độc giả. Người Việt chúng ta vẫn nói: „Hãy chụp / nắm lấy Thời (cơ). Đừng để nó vuột khỏi tầm tay“! Tại sao Thời lại có thể „chụp“, „nắm“ hoặc có thể „vuột“ khỏi tay? Về điểm này, tôi nghĩ có thể có một gạch nối văn hoá rất gần giữa dân Việt và dân Hi-lạp.

Hẳn quý vị không lạ gì kiểu để tóc của „thằng Bờm“ hay của các chú tiểu nhi đồng như trong hình? Đầu cạo trọc, chỉ để lại một hoặc hai chỏm tóc nhỏ. Trong thập niên 50, 60 thế kỉ trước, tôi thấy nhiều con trai con gái các vùng quê vẫn để tóc kiểu đó, con trai cạo trọc chỉ giữ lại một chỏm, con gái để ba chỏm: một trước vùng trán, hai chóp hai bên tai. Trước đây tôi nghĩ lối để tóc đó là để giữ vệ sinh cho đầu đứa trẻ. Nhưng nơi chú Bờm hoặc nơi các chú tiểu nhi trong các chùa hiện nay thì hẳn là không vì chuyện vệ sinh? Mà có lẽ là nó xuất phát từ một niềm tin: tin rằng nó mang lại cơ hội và may mắn cho trẻ.

Mà nếu đúng như vậy thì quả có sự cộng thông giữa hai nền văn hoá Việt – Hi. Là vì người Hi-lạp xưa coi Kairos (Thời) là một vị Thần, và vị Thần này mang dáng một thanh niên đầu cạo trọc, chỉ để có một lọn tóc nhỏ và dài trên đầu (Lối để tóc mà các anh chị Punker hiện thỉnh thoảng vẫn bắt chước). Lọn tóc này là cái để người ta có thể „chụp“ lấy, „nắm bắt“ và giữ được Thần, để ngài khỏi „vuột“ tầm tay.

 

Augsburg, ngày 13.04.13

Phạm Hồng-Lam

Ngày Xuân Tản Mạn Chữ THỜI

One thought on “Ngày Xuân Tản Mạn Chữ THỜI

  • 2. January 2017 at 2:47
    Permalink

    Khi dời ghế nhà trường trung học để bước vào ngưỡng cửa đại học và sau này trở thành người lính cầm súng giữ quê hương.Tôi được nghe rất nhiều giáo sư, người lớn và đàn anh nói”anh hùng tạo thời thế,thời thế tạo anh hùng”Vì con trẻ và còn mơ mộng lung tung nên chúng tôi không để ý mấy về vấn đề này.Biến cố 30 tháng tư đen, thành người di tản buồn nhìn về cố quốc mới cảm nhận ra,VNCH đã làm mất đi thời cơ ngàn vàng, của nền đệ nhất cộng hòa,đáng ra chúng ta sẽ là nước văn minh tiến bộ giàu có tự do dân chủ, hòn ngọc viễn đông.Thay vì nắm thời cơ thì nam Việt nam đã làm mất đi thời cơ.Đảng CS đã cướp thời cơ biến VN thành quốc gia nghèo và lạc hậu,đưa VN vào quỹ đạo nô lệ cho Tàu và bắt nhân dân làm lao nô cho đảng cướp,Mafia CSVN .Sau 41 năm CS tiến chiếm miền nam đã dậy cho dân tộc VN bài học để đời đừng nghe những gì CS nói,mà hãy nhìn CS làm. . . .Đứng trước thời cơ cả nước đã không còn sợ và phong trào đòi quyền sống diệt tham nhũng,Formosa,xã hội dân sự nhứ nước lũ lụt tràn vào miền Trung sẽ nhận chìm chế độ CS . . .Vận hội mới,thời cơ mới đang chờ đón toàn dân trong và ngoài nước xuống đường,biểu tình cứu quê hương dân tộc trong năm 2017./-

    Reply

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *