Bộ Trưởng ở Vatican

 

Thưa đức Thánh Cha, ngày 25.11.1981 Ngài được chỉ định làm Bộ Trưởng Bộ Đức Tin, và như thế trở thành người đứng đầu lo việc gìn giữ đức tin của Giáo Hội công giáo bên cạnh Giáo Tông . Ngày 01.03.1982 Ngài tới Roma nhận nhiệm sở. Nghe nói, những buổi họp lớn đầu tiên của Ngài đều bằng tiếng La-tinh?

Lúc đó tôi không biết tiếng Í. Tôi mới chỉ học nói theo sơ sơ. Hẳn đó là cái dở của tôi. Vì không thể điều hành được bằng tiếng Í, tôi đã dùng tiếng La-tinh.

 

Với hi vọng mọi người đều hiểu.

Thời đó quả thực ai cũng biết tiếng La-tinh, nên chẳng có vấn đề gì cả.

 

Lần đầu tiên gặp Gio-an Phao-lô II ở Vatican diễn ra như thế nào? Hai người đã nói với nhau về đường lối chính sách của Giáo Tông và đặc biệt về những nhiệm vụ phải làm của một Bộ Trưởng?

Không. Tôi tới gặp ngài hàng tuần. Có dư đủ giờ để trao đổi với nhau. Chúng tôi không bàn tới những đường lối căn bản. Còn công việc phải làm của một bộ trưởng thì đã rõ.

 

Có lần Ngài nói, có dâng thánh lễ chung thì mới hiểu rõ được con người của Gio-an Phao-lô II, chứ chỉ có nghiên cứu sách của ngài mà thôi thì không đủ. Nghĩa là sao?

Khi dâng lễ chung với ngài, mình mới cảm được sự gần gũi của ngài với Chúa, cảm được chiều sâu đức tin của ngài, và mới nhận ra ngài đúng là một kẻ chìm đắm trong đức tin, cầu nguyện và tràn đầy thánh thần. Đọc sách ngài, ta cũng nhận ra được một hình ảnh về ngài, nhưng không nhìn thấy toàn bộ nhân cách của ngài.

 

Hai người mang tâm tính rất khác nhau. Vậy tại sao lại có thể hoà hợp với nhau đến như thế? Phải chăng chính vì vậy mà bộ máy mới chạy?

Có lẽ như thế. Ngài là người hướng ra xã hội, cần sự sống và chuyển động, cần những cuộc gặp gỡ. Tôi trái lại thích yên tĩnh và đại loại như thế. Chính vì khác nhau, mà chúng tôi bổ tức cho nhau.

 

Khi còn làm Tổng Giám Mục ở München và khi làm Bộ Trưởng ở Roma Giáo Tông có nhờ Ngài giúp một công tác nào đó ở Ba-lan không? Công tác yểm trợ phong trào đối kháng Solidarnosc (Công Đoàn Đoàn Kết)?

Không.

 

Thời đó Ngài đã nhiều lần sang Ba-lan.

Đúng, nhưng sang vì những chuyện khác…  Tôi có những quan hệ trực tiếp.

 

Ngài có tich cực đồng hành với „Ostpolitik“ (chính sách đối với các nước đông âu cộng sản) của Giáo Tông không?

Chúng tôi có trao đổi với nhau về chuyện này. Rõ ràng chính sách của Casaroli [Hồng y Agnostino Casaroli được coi là kiến trúc sư về chính sách của Vatican đối với Đông Âu dưới thời Gio-an XXIII và Phao-lô VI; ông giữ vai trò Quốc Vụ Khanh dưới thời Gio-an Phao-lô II từ 1979 tới 1990] đã thất bại từ nền tảng, cho dù nó được người ta khen lấy khen để. Đường hướng mới của Gio-an Phao-lô II xuất phát từ kinh nghiệm sống động riêng của ngài, từ mối giao tiếp của ngài với các quyền lực và các thế lực đó. Dĩ nhiên thời đó người ta không thể hi vọng vào một cuộc sụp đổ mau chóng của chế độ này. Nhưng rõ ràng, là phải mạnh mẽ chống lại nó, thay vì nỗ lực đi tìm những thoả hiệp. Đó là quan điểm nền tảng của Gio-an Phao-lô II, mà tôi cũng tán đồng.

 

Hẳn là đã có những dị biệt quan điểm. Chẳng hạn như nơi cuộc gặp gỡ cầu nguyện ở Assisi của Giáo Tông với đại diện các tôn giáo thế giới; đây không phải là một đề tài thú vị của Ngài.

Điều này đúng. Nhưng chúng tôi đã không tranh luận gì, vì tôi biết, ngài mong muốn điều đúng và trái lại ngài cũng hiểu, là tôi có một đường lối hơi khác. Trước cuộc gặp ở Assisi lần thứ hai ngài bảo tôi, là ngài muốn tôi đến đó và tôi cũng đã đến. Và lần này việc tổ chức cũng đã hoàn bị hơn. Những yêu cầu của tôi đã được chấp nhận và rồi đã có được một hình thái tổ chức, qua đó tôi có thể tham gia cách tốt đẹp.

 

Trong cuốn sách đầu tiên của chúng ta „Muối Cho Đời“ tôi có hỏi: „Gio-an Phao-lô II sợ Ngài phải không?“ Vì nghe đâu, mỗi lần gặp chuyện khó xử, Gio-an Phao-lô II thường hỏi: „Thế hồng y Ratzinger đã nói thế nào về điểm này?“

Không. (Cười lớn.)  Chẳng có chuyện sợ gì cả, nhưng ngài rất quan tâm tới ý kiến của chúng tôi. Nhân đây tôi muốn kể cho Anh nghe một câu truyện vui: Có lần một vị đại diện toà thánh hỏi giáo tông Pi-ô XII, ông có được phép làm một điều gì đó theo ý riêng hay không, và việc làm này không hoàn toàn phù hợp với giáo luật. Giáo Tông suy nghĩ một lúc rồi nói: „Ngài được phép. Nhưng nếu Bộ Đức Tin biết được và cho điều tra, thì tôi chẳng giúp gì Ngài được đâu.“ (Cười.)

 

Một trong những tài liệu gây sóng gió của Ngài là tuyên ngôn „Dominus Iesus“, trong đó trình bày về tính cách cá biệt của Giáo Hội Công Giáo. Cho tới nay người ta vẫn cho rằng, tài liệu đó là do chính Ngài viết.

Tôi cố ý không bao giờ tự viết một tài liệu nào cả của Bộ, để tránh bị trách cứ, là mình qua đó muốn phát tán và áp đặt quan điểm thần học riêng của mình. Tôi chủ trương phải để cho cơ thể được phát triển bình thường, mỗi thứ phải được xuất phát từ bộ phận trách nhiệm của nó. Dĩ nhiên tôi cũng đóng góp vào đó và cùng sửa đổi chúng. Nhưng tôi đã không tự tay viết một tài liệu nào, kể cả Dominus Iesus.

 

Thời đó người ta đồn rằng, chính Giáo Tông cũng chống tại Tuyên Ngôn.

Điều này không đúng. Một hôm ngài gọi điện cho tôi và nói: „Tôi muốn nhân một buổi đọc kinh Truyền Tin sẽ nói về chuyện này và cho thiên hạ hiểu rằng, tôi hoàn toàn đồng ý với bản Tuyên Ngôn; vì thế tôi muốn Hổng Y tự viết cho tôi bản văn để đọc, trong đó cho thấy hai chúng ta hoàn toàn là một.“ Và tôi đã viết, nhưng trộm nghĩ, bản văn không thể viết cách xuyềnh xoàng được. Vì thế nội dung đã được viết rõ ràng và câu văn cũng thật tô chuốt. Ngài hỏi tôi: „Có chắc bản văn không còn một kẽ hở nào nữa chứ?“ –„Chắc chắn.“ Nhưng sự việc đã tác động hoàn toàn ngược lại. Cũng vì hình thức đài các của bản văn mà mọi người đã nói: „Ấy, cả Giáo Tông cũng không muốn đồng ý với Hồng Y.“

 

Ý tưởng làm sách Giáo Lí Công Giáo cho toàn thế giới là do Ngài đưa ra?

Không phải chỉ mình tôi đưa ra. Thời đó càng ngày càng có nhiều người nêu lên câu hỏi: Không biết Giáo Hội còn có một giáo huấn chung nữa không? Người ta bảo, quả thật chẳng biết Giáo Hội tin điều gì nữa. Có nhiều trào lưu rất mạnh, ngay cả trong những người rất tốt, họ bảo: Ta không thể nào làm được một cuốn giáo lí chung. Tôi nói: Hoặc là chúng ta còn có một cái gì để nói; nếu vậy thì phải làm sao trình bày nó ra. Hoặc là ta chẳng còn gì để nói nữa. Như thế, tôi là một chiến sĩ tiên phong cho tư tưởng đó, với xác tín rằng, Giáo Hội ngày nay vẫn phải có khả năng nói ra những gì mình tin và dạy.

 

Còn tông thư Fides et Ratio– Đức Tin và Lí Trí năm 1998, có bao nhiêu phần của hồng y Ratzinger trong đó? Đôi chút hay chẳng có gì cả?

Có thể nói đôi chút. Có đóng góp một số ý tưởng.

 

Có câu chuyện vui nào giữa Ngài và Gio-an Phao-lô II không?

Trong dịp Gio-an Phao-lô II thăm nước Đức lần đầu tiên và đang ghé München, tôi thấy lịch trình công việc của ngài dày đặc từ sáng đến tối mịt. Tôi nghĩ, không thể để như thế được. Phải chừa một chút để nghỉ ngơi chứ! Và tôi đã can thiệp thành công, để ngài nghỉ trưa chốc lát trong căn phòng đẹp của tòa tổng giám mục. Vừa lên phòng chưa được bao lâu, ngài gọi tôi lên gấp. Khi tôi bước vào, ngài cũng vừa nguyện kinh sách xong. Tôi nói: „Thưa đức Thánh Cha, ngài phải nghỉ ngơi một chút!“ Ngài liền trả lời: „Tôi có thể nghỉ ngơi ở chốn đời đời.“ Tôi nghĩ, đó là đặc tính của con người ngài. Tôi có thể nghỉ ngơi ở chốn đờn đời. Còn ở chốn này thì không thể nghỉ được.

 

Có lẽ điều đó cũng đúng phần nào đối với chính Ngài. Khi tôi gặp phỏng vấn Ngài lần đầu trong tháng 11 năm 1992, Ngài thú nhận là đã quá mệt mỏi và muốn từ chức xin nghỉ. Ngài bảo, phải nhường chỗ cho những sinh lực mới.

Năm 1991 tôi bị xuất huyết mạch máu não. Nó còn tác động mạnh cho tới năm 1992. Phải nói từ 1991 tới 1993 là những năm khá khó nhọc đối với tôi; cả về thể lực lẫn tâm lực. Và rồi tôi lại khỏe lại.

 

Ngài xin từ chức lần đầu tiên vào lúc nào?

Sau thời gian năm năm đầu (Quinqeunnium) vào năm 1986 tôi có nhắc nhở Giáo Tông rằng, nhiệm kì của tôi đã hết. Nhưng ngài bảo: không nghỉ được. Năm 1991 tôi khẩn thiết yêu cầu ngài cho tôi nghỉ, vì như đã nói, tôi bị xuất huyết não và sức khỏe quá tệ. Tôi nói với ngài: Giờ thì không thể tiếp tục được nữa. Nhưng ngài trả lời: „Không được.“

 

Và lần thứ ba?

Trước khi tôi có thể mở miệng, ngài đã nói: „Hồng Y không cần phải viết đơn xin nghỉ, không cần phải nói với tôi, vì đơn sẽ không được chấp nhận. Hồng Y phải ở lại, bao lâu tôi còn ở đây.“

 

Tháng chín 1991 Ngài bị đột quỵ phải nằm bệnh viện Pi-ô XI ở Roma mười bốn ngày. Sự việc xẩy ra như thế nào?

Vụ xuất huyết não làm cho thị lực mắt trái của tôi bị hạn chế. Tôi vẫn nhìn được với con mắt đó, nhưng chỉ nhìn thấy thẳng trước mặt, chứ không thấy hai bên chung quanh. Ngoài việc kiệt sức vì công việc và tuổi tác, đó là nỗi phiền hà chính. Nhưng chừng ấy cũng đủ mệt rồi.

 

Rồi sao nữa?

Dần dần thị lực mắt trái trở nên khá hơn. Nhưng rồi một hôm, tôi nghĩ là năm 1994, bị thêm chứng tắc mạch máu, nó toả dần ra khắp con mắt. Lúc đó tôi đang ở Maria Eck và ngày hôm sau mới tới được bác sĩ. Nhưng quá trễ, thị lực đã bị ảnh hưởng quá nặng. Phải chữa trị lâu, và cuối cùng bị thêm Makula nữa [Macula lutea: chứng bệnh làm võng mạc có những đốm vàng], nên mắt trái mù luôn.

 

Mù hẳn?

Vâng. Tôi chẳng còn thấy sáng hay tối gì nữa.

 

Ở Vatican Ngài chẳng liên hệ với nhóm chính trị nào cả. Ngài chúa ghét chuyện lập bè lập nhóm. Có phải vì xa cách bộ máy cơ quan mà Ngài gặp lắm kẻ thù?

Tôi tin hẳn không có chuyện đó. Tôi cũng có những bạn hữu. Mọi người biết, tôi không làm chính trị, do đó hận thù đã không có dịp nẩy nở. Họ biết: Ông này chẳng nguy hiểm gì.

 

Với tư cách người canh giữ đức tin, Ngài đã ảnh hưởng trên nhiệm kì của Gio-an Phao-lô II suốt một phần tư thế kỉ, lâu nhất từ trước cho tới nay. Ngược lại, Wojtylas đã ảnh hưởng thế nào trên con người Ratzinger?

Tôi học được từ ngài lối suy nghĩ thông thoáng hơn, ngay cả trên bình diện đối thoại tôn giáo. Đặc biệt chúng tôi trao đổi với nhau rất nhiều về các tông thư đạo đức và về cuốn giáo lí. Tầm nhìn rộng và nặng chiều triết học của ngài do đó cũng đã giúp tôi mở rộng chân trời của mình.

 

Hàng triệu người theo dõi truyền hình buổi lễ tiễn đưa giáo tông Gio-an Phao-lô II. Hôm đó trên công trường Phê-rô có từ ba tới năm triệu người chen chúc nhau dự lễ. Chiếc hòm gỗ đơn sơ, gió lật từng trang cuốn Tin Mừng đặt trên đó, buổi lễ do Ngài chủ tế thật cảm động. Ngài nghĩ và cảm thấy gì lúc đó?

Cái chết đó quả đã đánh động tôi mạnh, vì chúng tôi rất thân nhau. Ngài là một nhân vật có tầm quan trọng quyết định đối với tôi. Tôi cũng đã chứng kiến hết đoạn đường đau đớn của ngài, và khi tới thăm ngài tại bệnh viện Gemelli tôi biết ngài sẽ chẳng còn sống được bao lâu nữa. Dĩ nhiên chẳng ai cầm lòng được trước một cảnh ra đi như thế. Đồng thời tôi cũng ý thức, là ngài đang hiện diện, đang từ cửa sổ thiên đình đưa tay ban phép lành cho mọi người, như điều tôi đã nói trên công trường Phê-rô. Đây chẳng phải là lời nói suông, nhưng nó xuất phát từ cảm xúc tự đáy lòng. Ngài lúc này vẫn đang hiện diện, vẫn đang nhìn xuống chúc lành và tình bạn giữa tôi và ngài vẫn tiếp tục với một cách khác.

Biển-đức XVI: Những Trao Đổi Cuối Cùng. Bài III

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *