Những Ngày Lặng Lẽ Trong Mater Ecclesiae

 

Thưa Cha Benedetto, trước đây hàng triệu người tung hô đức Thánh Cha, Ngài ở trong lâu đài, tiếp đón những vị khách lớn. Giờ đây Ngài có cảm thấy thiếu một chút gì đó không?

Hoàn toàn không. Không! Trái lại, tôi cảm tạ Chúa vì đã cho tôi thoát khỏi gánh nặng đó, có lẽ Chúa không còn bắt tôi phải mang trách nhiệm nữa. Tôi bây giờ tự do, được hàng ngày khiêm tốn cùng đi với Người, được sống với bạn bè và được bạn bè thăm viếng.

Bỗng dưng chẳng còn một chút quyền gì nữa, gần như bị giam hãm trong các bức tường của Vatican – Ngài nghĩ sao?

Tôi chẳng bao giờ quan niệm „quyền bính“ như là việc mình được có thêm quyền lực. Nhưng luôn coi đó là trách nhiệm, là một cái gì khó khăn và nặng nề. Là một cái gì bắt mình mỗi ngày phải tự hỏi: Tôi có xứng đáng với cái đó không? Cả khi được đám đông tung hô, tôi vẫn luôn ý thức rằng, không phải họ tung hô người đàn ông nhỏ con đáng thương này, nhưng họ tung hô Vị mà tôi đại diện. Vì thế việc từ chối quyền bính đối với tôi chẳng có gì khó khăn cả.

Trước đây Ngài cho hay, nhiệm kì giáo tông của mình có thể sẽ ngắn ngủi? Ý nghĩ này có ảnh hưởng gì trên chương trình làm việc trong nhiệm kì không?

Đúng, tôi đã nghĩ, là mình không còn đủ sức để cáng đáng vai trò. Vì thế, tôi không thể đề ra những chương trình dài hơi. Nếu có thời gian, thì mình phải làm một cái gì đó lâu dài. Tôi ý thức rằng, mình có một thứ sứ mạng khác, tôi phải ưu tiên nỗ lực làm cho người ta thấy đâu là ý nghĩa của đức tin trong thế giới hôm nay, đưa nó vào tâm điểm cuộc sống và làm sao giúp cho con người can đảm sống đức tin, can đảm sống đức tin một cách cụ thể trong thế giới này. Đức Tin và Lí Trí, đó là tất cả những gì tôi coi là sứ mạng của mình. Sứ mạng này chẳng đòi hỏi thời gian nhiệm kì phải lâu hay ngắn.

Đã có lúc nào Ngài cầu Chúa „Xin cất gánh nặng này cho con“?

Không. Không cầu như thế. Nhưng tôi đã xin Người cho tôi tránh được nhiệm vụ đó và xin Người giúp tôi. Nhưng tôi cũng biết, một khi Người đã đưa tôi vào vị trí đó, thì Người cũng chẳng để tôi té ngã.

Ngài đã có nghĩ tới việc từ chối kết quả bầu cử?

Quả thật tôi đã rất quan tâm tới chuyện đó. Nhưng điều làm cho tôi bị ấn tượng, là trong buổi tiền mật nghị nhiều hồng y đã bằng cách này hay cách khác buộc người sẽ được bầu phải chấp nhận kết quả của đa số hai phần ba và phải nhìn thấy trong đó sự tin tưởng của họ – cho dù người đó cảm thấy mình không đủ khả năng vác thập giá.

Đã có lúc nào Ngài nghĩ rằng, việc bầu chọn mình là sai?

Không. Các hồng y đã chọn lên một người, thì người đó phải thi hành nhiệm vụ của mình. Và chỉ có sự thầm định của Thiên Chúa mới quan trọng, chứ việc đánh giá của các nhà báo chẳng quan trọng.

Ngài còn tiếp tục viết gì nữa không?

Không! Không, tôi đã làm xong công trình của mình rồi.

Ngài đã để lại một công trình thần học lớn chưa từng có so với các giáo tông từ trước tới nay. Giờ đây làm sao có thể bỏ bút ngồi yên được?

Hoàn toàn chả có vấn đề gì cả. Mỗi tuần tôi soạn bài giảng cho thánh lễ chủ nhật. Như vậy tôi vẫn làm công việc trí óc, vẫn phải diễn giải lời Chúa. Nhưng tôi không còn viết được nữa. Vì viết đòi hỏi phải có phương pháp, việc này quá khó nhọc đối với tôi lúc này.

Ngài viết bài để giảng trước bốn, năm người?

Tại sao không? (Cười.) Cho ba hay hai mươi hay cả ngàn người thì cũng phải soạn. Lời Chúa luôn phải có cho con người.

Một cựu Giáo Tông suy niệm ra sao? Ngài có thích hay quý đặc biệt một lối linh thao nào không?

Lúc này tôi có thể chậm rãi và chuyên sâu cầu nguyện theo sách nhật tụng và qua đó làm bạn với các Thánh Vịnh và các Giáo Phụ. Mỗi chủ nhật, như đã nói, soạn một bài giảng ngắn. Suốt tuần tôi nghĩ một chút về nó, để cho các tư tưởng chín dần trong đầu óc, có vậy mình mới nhìn vấn đề được dưới nhiều mặt. Bài đó nói gì cho tôi? Nó nói gì cho những người trong tu viện này? Điều mới đối với tôi lúc này, nếu được phép nói như thế, là tôi có nhiều yên tĩnh hơn để thả hồn vào các bài nguyện thánh vịnh, có thể đào sâu chúng hơn. Và bằng cách đó, các bài đọc phụng vụ, nhất là các bài đọc ngày chủ nhật, đồng hành với tôi suốt cả tuần lễ.

Ngài yêu thích đặc biệt lời nguyện nào?

Có một vài lời. Chẳng hạn như lời của thánh I-nhã: „Lạy Chúa, xin Chúa hãy nhận lấy toản bộ sự tự do của con.“ Và một lời của Phan-sinh Xa-vê: „Con yêu Chúa không phải vì Chúa có thể đưa con lên trời hoặc đẩy con xuống hoả ngục, mà vì Chúa là Chúa.“ Hoặc lời của Niklaus von Flüe: „Xin Chúa hãy nhận lấy con như con đang là…“…

Tâm điểm suy tư của Ngài luôn là sự gặp gỡ giữa cá nhân với đức Ki-tô. Việc suy tư đó lúc này ra sao? Ngài đã tới gần đức Giê-su đến đâu?

(Hít hơi vào mạnh.) Vâng nó thay đổi tuỳ theo hoàn cảnh, nhưng tôi vẫn thấy Người ở ngay trước mặt tôi trong phụng vụ, khi cầu nguyện và trong những suy gẫm cho bài giảng thánh lễ chủ nhật. Người luôn vẫn là đấng lớn lao và huyền bí. Lúc này tôi không còn dễ dàng như xưa cảm nhận ra nét cao cả và tầm quan trọng trong nhiều đoạn Tin Mừng. Tôi nhớ đến thời mình còn làm phó xứ. Ngày nọ, nhà thần học Romano Guardini được một giáo xứ tin lành bên cạnh mời tới nói chuyện và ông đã nói với vị mục sư: „Càng về già việc sống đạo càng khó hơn, chứ không dễ hơn.“ Câu này đã làm cho vị chính xứ của tôi giật mình xúc động. Nhưng nó có phần đúng. Một đàng, về già mình có được suy tư chín chắn hơn. Cuộc sống đã định hình. Đã có được những quyết định nền tảng. Nhưng đàng khác, các thắc mắc lại nặng nề hơn, thêm vào đó là sức ép của vô thần ngày nay, sức ép của sự vắng bóng đức tin đang thấm sâu vào Giáo Hội, và thêm nữa là sự cao cả của lời Chúa càng ngày càng vuột ra khỏi sự suy diễn của mình.

Cái đó là do mình xa Chúa hay là do sự ngờ vực?

Không phải do ngờ vực, nhưng vì cảm thấy không thể nào vươn tới được cái huyền nhiệm cao cả đó. Dĩ nhiên mình cũng có thêm được những nhận thức mới. Điều này làm cho tôi cảm động và an ủi tôi rất nhiều. Nhưng tôi cũng nhận ra, là không thể nào hiểu thấu được Lời. Nhất là những Lời thịnh nộ, Lời phủ bác, Lời đe doạ phán xét làm cho mình lo sợ và chúng trở nên mạnh mẽ và khủng khiếp hơn xưa.

Người ta cho rằng, một giáo tông, vị đại diện của đức Ki-tô trên trần gian, phải là người đặc biệt sống gần và thân mật với Chúa?

Đúng, cần phải như thế, và tôi cũng không có cảm tưởng là Người ở xa tôi. Tôi vẫn luôn có thể thưa chuyện với Người. Nhưng dù vậy, tôi chỉ là một con người nhỏ bé đáng thương, không phải bao giờ cũng vươn tới được Người.

Cũng có những „đêm đen“ mà nhiều thánh hay nói tới?

Không đến nỗi như thế. Có lẽ tôi cũng chưa thánh đủ, nên chưa rơi vào bóng tối sâu dày như thế. Nhưng ngay trong vòng chuyện con người, trong đó người ta than van, tại sao Chúa lại để cho những thứ đó xẩy ra, thì câu hỏi thật day dứt. Lúc đó mình chỉ biết bám chặt vào niềm tin, là Chúa chắc chắn biết rõ hơn mình.

Trong đời Ngài đã có những „đêm đen“ như thế không? Ngài giải quyết những trường hợp đó ra sao?

Có thể nói, chẳng có những đêm thật đen, nhưng lắm khi gặp khó khăn với Chúa trong nhiều hoàn cảnh. Tại sao lại có nhiều sự dữ đến thế? Điều này làm sao phù hợp với sự toàn năng, với lòng nhân từ của Người?

Để giải quyết, tôi trước hết bằng cách bám chặt vào sự chắc chắn của đức tin, có thể nói là bước vào đứng trong đó. Rồi biết rằng, khi mình không hiểu điều gì, thì không có nghĩa là điều đó sai, mà vì mình quá bé nhỏ nên chưa thể hiểu nổi. Trong một vài trường hợp quả thật tôi từ từ hiểu ra vấn đề. Quả là một quà tặng quý hoá, khi mình bỗng dưng nhìn ra được cái mà trước đó không nhìn ra. Và mình hiểu ra, khi gặp bế tắc với lời Chúa, mình cần phải khiêm tốn chờ đợi, cho đến lúc Chúa mở ra cho mình hiểu.

Một Giáo Tông về hưu có sợ sự chết hoặc ít là có sợ mình chết hay không?

Trên một phương diện nào đó có sợ. Thứ nhất, sợ mình bị tật bệnh lâu dài và trở thành gánh nặng cho kẻ khác. Nếu rơi vào hoàn cảnh này thì tôi buồn lắm. Ba tôi cũng luôn sợ điều đó, nhưng ông đã tránh được. Thứ đến, dù hoàn toàn tin tưởng rằng, Chúa sẽ không thể vứt bỏ mình, nhưng càng gần tới ngày phải ra trước mặt Người, tôi càng cảm thấy mạnh hơn, là mình đã làm quá nhiều điều sai. Vì thế gánh nặng tội lỗi cứ đè nặng lên mình, dù mình vẫn sống trong niềm tin phó thác nền tảng đó.

Điều gì đè nặng Ngài?

Ấy là chuyện mình thỉnh thoảng không đáp ứng đầy đủ cho người khác, không hành xử đúng đắn với họ. Cám ơn Chúa, toàn là chuyện chẳng lớn lao gì, nhưng phải nói là có nhiều điều mình đã có thể và phải làm tốt hơn hoặc đã làm hay hành xử khác hơn đối với nhiều người.

Cánh Chung Luận (sách này chúng tôi cũng đã dịch. Ai cần bản dịch để nghiên cứu, liên lạc với chúng tôi), môn học về „những điều sau hết“ – chết, luyện ngục, mở ra một thế giới mới – là một trong những đề tài suy tư chính của Ngài. Ngài cho hay, cuốn sách về Cánh Chung Luận là tác phẩm được soạn kĩ nhất của Ngài. Lúc này đây, khi đang cận kề trước những câu hỏi cánh chung, Ngài có thấy những suy tư thần học có giúp mình được gì không?

Có. Chẳng hạn như những suy tư về lửa luyện tội, về đau khổ và ý nghĩa của nó, và rồi về tính chất cộng đoàn của hạnh phúc, nghĩa là có thể nói con người được dầm mình trong đại dương bao la của niềm vui và tình yêu, điều này quả rất quan trọng đối với tôi.

Biển-đức XVI: Những Trao Đổi Cuối Cùng. Bài II

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *