Những Trao Đổi Cuối Cùng
Lời tựa của Seewald

Một mùa hè và một mùa đông đi qua. Ngày 23.05.2016 một lần nữa tôi lái xe men theo con đường dốc dẫn tới tu viện Mater Ecclesiae trong các khuôn viên Vatican. Lần này tôi e sợ rằng, có thể đây là buổi trao đổi dài cuối cùng giữa hai chúng tôi.

Nữ tu Carmela mở cửa. Hôm nay chị không đeo trên người tấm yếm làm bếp, mà khoác một bộ áo thanh lịch. Trong phòng tiếp khách treo một bức hình thánh An-tịnh (Augustinus), một bậc thầy tinh thần lớn. Thánh nhân là nhân vật quan trọng đối với giáo tông Biển-đức XVI, vì Biển-đức đã học được nơi ngài về cuộc tìm kiếm Chân Lí Đức Tin bi tráng của con người.

Thay vì đi dép đỏ, cựu Giáo Tông hôm nay mang đôi xăng-đan như một tu sĩ dòng. Rất ít người biết con mắt trái của ngài đã mù từ nhiều năm nay, và đôi tai lúc này cũng đã nặng. Người gầy đi nhiều, nhưng điệu bộ của cụ già chưa bao giờ mềm mại như lúc này. Và quả thật quyến rũ, khi nhìn nhà tư tưởng táo bạo, vị triết gia của Chúa, người đầu tiên được gọi là cựu Giáo Tông, đang bước vào giai đoạn cuối cuộc đời, trong đó ngoài việc suy tư đầu óc thường đắm mình trong thinh lặng cầu nguyện, một hành vi vốn là tâm điểm của đức tin.

Tháng 11 năm 1992 tôi gặp vị cựu Bộ Trưởng lần đầu tiên. Tạp chí „Süddeutsche Zeitung“ muốn đưa ra một chân dung nhân vật và tôi đảm nhiệm việc này. Trong danh sách những người muốn xin hẹn gặp vị Hồng Y nổi tiếng nhất thế giới lúc bấy giờ có tên các đồng nghiệp của báo „New York Times“, „Prawda“ và „Le Figaro“. Tôi chỉ là người mang danh công giáo, chẳng còn đạo nghĩa gì, nhưng càng tìm hiểu lâu về Joseph Ratzinger, tôi càng ngưỡng mộ trước thái độ tự chủ, sự đam mê và can đảm của ngài, dám chống lại những tư tưởng lỗi thời. Và đặc biệt là những phân tích của ngài không những gây kích động, mà chúng xem ra còn đúng nữa.

Quan sát kĩ hơn, nhân vật vốn bị chế diễu là „Hồng Y Thiết Giáp“ không phải là người biểu trưng của một lịch sử quá khứ, mà là của tương lai: một đầu óc mới trong việc nhận thức và diễn tả các bí ẩn của đức tin. Khả năng đặc biệt nơi ngài là có thể đơn giản hóa được những điều rắc rối, nhờ đó có thể nhìn xuyên qua bề mặt để thấu vào sự vật. Khoa Học và Tôn Giáo, Vật Lí và Siêu Hình, Suy Tư và Cầu Nguyện – Ratzinger nối được tất cả những thứ đó lại với nhau, để đi sâu thật sự vào tâm điểm của một vấn đề. Và vấn đề còn được nâng cao lên nhờ thứ ngôn ngữ đẹp và lối suy tư sâu lắng của ngài. Ngài nói „Thần Học là sự suy tư về những điều Thiên Chúa đã nói trước và nghĩ trước cho ta.“ Để có thể nhận lãnh, con người cũng phải biết lắng nghe. Muốn không những gây ấn tượng trên con người, mà còn dẫn họ về với Thiên Chúa, cần phải có Lời cảm hứng.
Cũng như Karol Wojtyla, bản thân Joseph Ratzinger đã kinh nghiệm về những hậu quả của các hệ thống vô thần. Lúc còn nhỏ, ngài đã chứng kiến cảnh thu dỡ thập giá ra khỏi các lớp học. 17 tuổi làm lính, ngài nhận ra sự ngông cuồng của một thế giới không có Thiên Chúa; thế giới này muốn tạo ra „con người mới“ và đã kết thúc trong khủng bố và đổ vỡ kinh hoàng. Nhiệm vụ nổi bật của suy tư và toàn bộ công trình của ngài là cả dùng lí luận để bảo vệ Ki-tô Giáo chống lại việc làm đảo lộn các giá trị. Ngài nói, „Qua lòng tin của cha mẹ tôi, tôi đã xác định được rằng, Ki-tô Giáo là một thành trì của sự thật và công lí chống lại vương quốc vô thần và dối trá, mà chế độ quốc-xã là biểu tượng.“
Một bước đường bi thảm lát đầy thành công và thất bại đã đưa cậu học trò đầy năng khiếu và vốn sớm nhận ra ơn gọi của mình đi tới tận ngai thánh Phê-rô. Cậu là một học sinh tinh tế, thích làm thơ sáu vần tiếng Hi-lạp và mê say nhạc Mozart. Một sinh viên non trẻ mơ về một cuộc bừng dậy của Ki-tô Giáo khi đang bước đi trên những con đường đổ nát vì bom đạn ở München. Một ông giáo trẻ ham tìm hiểu được tiếp cận lối tư tưởng cấp tiến của những nhà thần học cự phách thời đó và đang vùi đầu vào các tác phẩm của An-tịnh, Kierkegaard và Newman. Một linh mục phó xứ thông thoáng gây hứng khởi cho các nhóm trẻ. Nhưng cũng là một ông giáo bỗng gặp vận không may với luận văn lên ngạch giáo sư (Habilitation) của mình và cảm thấy như đang phải đối diện với một đêm đen phủ lấp tương lai nghề nghiệp.

Nhưng số phận lại rẽ qua một hướng khác. Từ một giáo sư non trẻ xuất thân từ một làng nhỏ trong miền Bayern ngài bỗng trở thành một ngôi sao mới trong bầu trời các nhà thần học.

Với thứ ngôn ngữ tươi mát, cách diễn giải Tin Mừng sáng tạo, với sự cưu mang những giáo huấn đích thực ngài khiến cho thiên hạ phải đồn thổi nghe ngóng về mình. Giáo sư Gottlieb Söhngen ở München viết: „Trong thần học của một nhà tư tưởng lớn có sự ảnh hưởng qua lại giữa một bên là nội dung và hình thức của tư duy thần học với bên kia là sự nhất thống sinh động.“ Các giờ lớp của Ratzinger đông nghẹt người nghe. Giáo trình của ngài được chép tay ra hàng ngàn bản. Tác phẩm „Einführung ins Christentum“ (bản tiếng Việt: Đức Tin Ki-tô Giáo. Hôm Qua Và Hôm Nay) gây hứng khởi cho Karol Wojtyla ở Krakau, cho Viện Hàn Lâm Các Khoa Học Đạo Đức Và Chính Trị ở Paris, một trong những Viện Hàn Lâm của Institut de France; về sau ông được mời làm thành viên của Viện này.

Mới 35 tuổi, Ratzinger đã có thể đóng góp cho Công Đồng Vatican II những tư tưởng thông thoáng, nhằm đưa Giáo Hội bước vào thời hiện đại. Chẳng có ai ngoài nhà thần học non trẻ này đã có thể diễn tả hay hơn về chủ đích thực sự của Công Đồng, giáo tông Gio-an XXIII – người khởi xướng Công Đồng – đã nói như thế.

Trong khi những nhà thần học khác, vốn được ca ngợi như là những kẻ tiến bộ, mà thật ra họ phần nhiều chạy theo quan điểm chính dòng của tầng lớp tiểu tư sản, thì Ratzinger vẫn là một giáo sư, một tổng giám mục, một bộ trưởng chuyên gây bực bội. Suốt một phần tư thế kỉ, với tư cách là Bộ Trưởng Bộ Giáo Lí Đức Tin, ngài chống lưng cho giáo tông Gio-an Phao-lô II, và vì thế đã bị no đòn búa rìu công luận. Ngài cảnh giác: „Vấn đề chính của thời điểm lịch sử này là Thiên Chúa đã biến mất khỏi chân trời của con người.“ Theo ngài, „vì ánh sáng từ Thiên Chúa bị dập tắt“ nhân loại đâm ra mất phương hướng, và „chúng ta sẽ càng ngày càng thấy những hậu quả công phá của nó“.

Giáo Hội cũng bị ngài phê phán. Ngay từ năm 1958 ngài đã nói tới việc „giải thế“ („Entweltlichung“: lột hết các thứ mũ áo loè loẹt thế gian mà Giáo Hội trong suốt quá trình lịch sử đã khoác lên mình. Người dịch). Theo ngài, điều này cần thiết, để cho các chất kích tố của đức tin có lại được hiệu năng của chúng. Chúng ta luôn phải giữ tinh thần đối kháng, phải khước từ đồng phục, để đường đường minh chứng cho thiên hạ thấy lại được rằng, Ki-tô Giáo có một vũ trụ quan vượt lên trên mọi thứ thuần tuý thế tục và vật chất, ngoài ra nó còn mở ra một mạc khải về cuộc sống đời đời. Đừng khờ khạo nghĩ rằng, chỉ cần khoác lên mình một tấm áo mới, chỉ cần nói giống như thiên hạ nói, là mọi chuyện tức khắc sẽ ổn. Nhưng trái lại, điều cần phải làm là quay trở về với những thông điệp đích thực và với một nền phụng vụ có khả năng làm bừng sáng lại mầu nhiệm hi tế.

Không thể quên được lời than của ngài khi đi đường thánh giá ở Roma năm 2005: „Có bao nhiêu là dơ bẩn trong Giáo Hội và ngay cả nơi hàng linh mục, là những người lẽ ra hoàn toàn thuộc về Chúa?“

Vị Hồng Y già trở thành một thứ đá tảng, và không ai muốn ngồi lên đó. Chính Ratzinger ước ao được nghỉ hưu. Nhưng chỉ mấy ngày sau những lời nguyện trong ngày thứ sáu tuần thánh kêu mời mọi người xét mình và thanh tẩy đó, ngài lại xuất hiện trên bao lơn nhà thờ trong vai trò vị kế nhiệm thứ 265 của thánh Phê-rô, trước sự reo hò của đám đông. Ngài tự giới thiệu trước 1,2 tỉ tín hữu trên thế giới, mình là một „giáo tông nhỏ“, một người thợ tầm thường trong vườn nho của Chúa, kẻ nối gót đại giáo tông Karol Wojtyla – và ngài biết, mình sẽ phải làm gì.

Tân Giáo Tông nói rõ, vấn nạn đích thực của Giáo Hội không nằm nơi việc giảm số lượng tín hữu, mà nơi việc mất đức tin. Theo ngài, đó là việc ý thức ki-tô giáo biến mất dẫn tới khủng hoảng, việc do dự trong cầu nguyện và thánh lễ, việc hết hứng khởi truyền giáo. Muốn đổi mới thật sự, theo ngài, phải có một cuộc phục hưng tâm hồn, một trái tim rực lửa. Ưu tiên hàng đầu của ta là loan truyền những điều mình biết được và tin được từ nguồn chắc chắn về đức Ki-tô. Quan trọng là „phải giữ cho được chiều kích cao cả và trong sáng của Lời Chúa – chống lại mọi khuynh hướng thích ứng và pha loảng“.

Suốt nhiều năm dài, nhiệm kì giáo tông này chỉ nghe tiếng tung hô. Xưa nay chưa bao giờ số người tới dự các buổi gặp gỡ giáo tông đông như thế. Các tông thư Deus caritas est (Thiên Chúa là tình yêu), Spe salvi (Hi vọng cứu rỗi) và Caritas in veritate (Bác ai trong chân lí) được in với số lượng ấn bản vô cùng lớn. Nhiều cuốn sách của ngài từ lâu đã trở thành loại cổ điển, giờ đây các bài nói chuyện của ngài lại là đề tựa ăn khách cho làng báo quốc tế. Ngài đã tự tạo cho mình một công trình độc đáo riêng, mà vẫn không đoạn tuyệt với con đường dài và sinh động của vị tiền mhiệm.

Nhưng cụ già 78 tuổi không chỉ là người đã cùng hình thành Công Đồng, mà còn là kẻ đã mơ ước có Công Đồng. Chừng mực, đối thoại, tập trung vào những điều cơ bản, đó là lối làm việc mới được ngài đưa vào Vatican. Giảm bớt phí tổn phụng vụ, rút ngắn thời gian họp các giám mục, thay vào đó là những cuộc thảo luận nặng tình đồng nghiệp.

Biển-đức XVI âm thầm làm việc, kể cả những việc do vị tiền nhiệm để lại. Ngài chống lại những gì mang tính phô trương. Ngài lặng lẽ bỏ thói hôn tay, thay triều thiên quyền uy của giáo tông bằng một mũ giám mục bình thường. Nhưng vì tôn trọng truyền thống, ngài cũng giữ lại những thói quen không hợp với con người mình. Ngài không phải là ông chủ, không phải là đối tượng tôn thờ của Giáo Hội, luôn tìm cách tiến lên phía trước. Mà chỉ là đại diện cho một Vị khác; mọi yêu thương và tin tưởng là cho Vị này mà thôi, đó là đức Giê-su Ki-tô, Lời của Thiên Chúa trở thành phàm nhân.

Sau Gio-an Phao-lô II, Biển-đức XVI là vị kế nhiệm thứ hai của thánh Phê-rô nói chuyện trong một nguyện đường hồi giáo. Nhưng Giáo Tông người đức này là người đầu tiên tham dự một buổi phụng vụ tin lành. Một hành động lịch sử có một không hai, khi vị lãnh đạo Giáo Hội công giáo tới thăm chỗ sinh hoạt của Luther trước đây. Ngài đặt, đây cũng là một điều chưa từng có, một tín hữu tin lành làm Chủ Tịch  Hội Đồng Giáo Tông Các Khoa Học, đưa một tín đồ hồi giáo vào giữ ghế giáo sư trong Đại Học Giáo Tông. Đồng thời, với khả năng thần học và tri thức của ngài, ngài đã nâng vị thế giáo tông lên một tầm cao, khiến cả những người bên ngoài cũng bị cuốn hút và quan tâm tới Giáo Hội công giáo. Bên cạnh đó, ba năm chủ đề suy tư nặng phần nội dung: Năm kính thánh Phao-lô, Năm Linh Mục và Năm Đức Tin cũng là điều đáng ghi. Với tự sắc Summorum Pontificum ngài cho các linh mục được quyền, mà chẳng cần phải xin phép trước các giám mục, dâng lễ theo nghi thức trước Công Đồng Vatican II. Đây là một hành vi mở cửa, một hành vi tự do, chứ không phải là một hành động thụt lùi.

Không phải tất cả những gì Biển-đức XVI làm đều đúng. Và rõ ràng Giáo Tông này đã không vận dụng được hết mọi khả năng tiềm tàng nơi mình. Nhiều khi xem ra như có sự tẩy chay nơi các giám mục và một số thành phần trong giáo triều. Thiếu sự hỗ trợ. Biển-đức khiêm tốn cam chịu. Ngài chấp nhận cả những kẻ phản bội, giống như Thầy mình đã chấp nhận. Nhưng phải chăng ngài đúng là một Giáo Tông yếu kém, như những người chống đối ngài đã cố gắng loan truyền sau ngày ngài từ chức?

Vô số bài báo và tiết mục truyền thông liên tiếp nã đạn trên Ratzinger. Ngài trả lời: „Khi một giáo tông chỉ nhận được tiếng vỗ tay mà thôi, thì vị đó nên tự hỏi, mình đã làm gì sai chăng.“ Quả thật những trận bom dai dẳng của các cơ quan báo chí hàng đầu đã là những tai ách nặng nề trong nhiệm kì giáo tông này. Họ chỉ muốn nói lấy được, chẳng quan tâm gì tới những cáo buộc của mình có cơ sở hay không.

Có thể kể ra đây ngắn gọn một vài „tai tiếng“ nặng nề đó. Theo họ, Biển-đức đã đưa giám mục Williamson của Huynh Đoàn Pi-ô „một người vốn chối bỏ sự kiện Quốc Xã Đức giết dân Do-thái vào Giáo Hội trở lại“. Cáo buộc nổ ra vào tháng giêng năm 2009; quả thật điều này đã khiến công luận, cho tới lúc đó vô cùng thiện cảm với Giáo Tông, từ đây có một cái nhìn khác hẳn đối với ngài. Nhưng thực tế: Williamson là một tín hữu anh giáo trở lại Công Giáo. Chức giám mục của ông đã chẳng được Roma công nhận, và Giáo Hội công giáo cũng chưa rút lại vạ tuyệt thông cho Huynh Đoàn Pi-ô.

Một trong những đề tài quan tâm đặc biệt của Ratzinger là mối tương giao giữa Do-thái Giáo và Công Giáo. Israel Singer, từ năm 2001 tới 2007 làm Tổng Thư Kí Nghị Hội Thế Giới của Do-thái Giáo, cho hay, nếu không có giáo tông Biển-đức, thì thái độ cố hữu của Giáo Hội công giáo từ hai ngàn năm nay đối với Do-thái Giáo đã không thể chấm dứt được. Phó Chủ Tịch Nghị Hội Thế Giới, ông Maram Stern, cũng phát biểu: Dưới thời Biển-đức XVI lịch sử tương quan giữa Công Giáo –và Do-thái Giáo „chưa bao giờ đẹp như lúc này“.

Trong vụ lạm dụng tình dục trẻ em bởi các linh mục và tu sĩ quả thật đã có một số thiếu sót và lỗi lầm, đặc biệt do các cơ quan trách nhiệm trong các quốc gia liên hệ. Nhưng từ lâu người ta cũng biết rằng, nếu không có Biển-đức XVI, thì mức độ tác hại của cuộc khủng hoảng trầm trọng đó hẳn còn nặng nề hơn cho Giáo Hội công giáo. Khi còn là Bộ Trưởng, Ratzinger đã có những biện pháp rốt ráo điều tra và phạt những kẻ tội phạm. Ở vai trò giáo tông, ngài đã sa thải gần 400 linh mục và cho ấn định lại những nền tảng giáo luật, để có thể truy cứu trách nhiệm đối với những giám mục và hồng y nào không chịu làm sáng tỏ vấn đề.

Còn vụ VatiLeaks? Không thể coi thường sự việc. Đàng sau các diễn tiến này có những phá rối của một vài thẩm cấp trong giáo triều. Nhưng cái gọi là „Âm mưu trong Vatican“ rốt cuộc chỉ còn việc đánh cắp tài liệu bởi một anh quản gia bệnh hoạn. Còn chuyện ngân hàng IOR của Vatican, Biển-đức đã ra lệnh rà soát lại và bắt đầu cho tiến hành tổ chức lại mới. Ngài cũng đã cho lệnh điều tra toàn bộ sự việc liên quan. Bản tường trình của Ủy Ban điều tra được giữ kín. Nhưng mức độ vấn đề cũng chẳng trầm trọng như người ta đồn đoán.

Những kẻ ủng hộ Biển-đức giờ đây xót xa, vì không còn được mục kích những bài thuyết trình khôn ngoan có khả năng làm hạ nhiệt lí trí và hâm nóng trái tim, nét đa diện trong ngôn ngữ của ngài, những phân tích trung thực, sự nhẫn nại lắng nghe, phong cách tao nhã hiếm có từ trước tới nay nơi hàng giáo tông. Dĩ nhiên cả nụ cười ngập ngừng, những cử chỉ thường hơi chũi về bên trái của ngài mỗi khi bước lên bục nói, như ta thấy nơi anh hề Charly Chaplin. Nhưng đặc biệt là việc ngài bám chặt nơi lí trí, vốn là thành trì của đức tin, nó giữ cho Đạo khỏi rơi vào vùng mơ tưởng và cuồng tín. Và còn tinh thần tiến bộ của ngài nữa, một yếu tố nhiều người không nhìn ra và cũng chẳng muốn nhìn ra. Ngài trước sau vẫn trung thành với sự tiến bộ đó, đến cả sẵn sàng làm những điều trước đó chưa ai làm.

Dù với bao nhiêu là sách vở, bài viết, bài giảng, bài suy niệm, thư từ – cho tới khi làm giám mục, Ratzinger có tất cả 30 000 lá thư – ngài không bao giờ tạo một Thần Học riêng cho mình. Nhà thần học Ratzinger chỉ thu nhận những gì đã có, nhận ra cái gì là chính yếu trong đó, sắp xếp chúng lại theo mối liên hệ thời gian và diễn tả chúng bằng một ngôn ngữ mới – nhằm giúp thông điệp ki-tô giáo và những kiến thức của lịch sử giáo hội không bị mai một đi nơi các thế hệ tiếp nối. Vì nhận ra tầm quan trọng lớn lao của Giáo Hội, nên nỗ lực đấu tranh của ngài cho định chế này cũng là điều dễ hiểu. Ngài đấu tranh để Giáo Hội trước sau vẫn là con thuyền cứu rỗi vượt thời gian, một con tàu No-ê chở nhân loại đi vào một thế giới tốt đẹp hơn. Ngài gọi đây là „sự cực đoan cánh chung của cuộc cách mạng ki-tô giáo“.

Chỉ riêng bộ sách ba tập về đức Ki-tô đủ làm cho nhiệm kì giáo tông này trở thành độc đáo. Đó là những cuốn cẩm nang không thể thiếu cho các nhà thẩn học và giáo lí viên tương lai cũng như cho việc đào tạo linh mục, tắt lại: chúng là nền tảng giáo huấn đức tin cho ngàn năm thứ ba. Công việc giáo huấn của ngài đã không khép lại nơi ghế đại học, mà là nơi ngai toà Phê-rô. Chưa một ai khác đã có thể như ngài dựa trên kiến thức, tiểu sử, sức lực và niềm hứng khởi của mình để vận dụng sự tỉ mỉ khoa học và sự hiện thực thần bí hầu đánh sáng lại khuôn mặt đức Giê-su vốn đã bị cào xé đến biến dạng, và nhờ đó giúp nhân loại tái nhận diện được Người.

Nhà sử học người anh Peter Watson xếp Biển-đức XVI vào chung hàng với Lessing, Kant và Beethoven và gọi ngài là một trong những đại biểu cuối cùng của „sự sáng tạo của dân Đức“. Mario Vargas Llosa, khôi nguyên giải Nobel văn chương người pê-ru, coi ngài là một trong những trí thức thông tuệ nhất hiện tại; „những suy tư mới mẻ và táo bạo“ của ngài, theo ông, là câu trả lời cho những vấn nạn ngày nay về đạo đức, văn hoá và hiện sinh. Hãy để lịch sử đánh giá về vai trò và vị trí của ngài trong tương lai. Nhưng có một điều nay đã chắc chắn: Với hơn ba mươi năm dài, không ai đứng đầu một định chế lớn và lâu đời nhất thế giới lâu như Joseph Ratzinger. Qua các đóng góp cho Công Đồng, qua việc tái khám phá các giáo phụ, qua việc linh động hoá các giáo huấn cũng như việc tẩy rửa và củng cố Giáo Hội, ngài không những là một người canh tân đức tin, mà, trong tư cách một nhà thần học trên ngai phê-rô, còn là một trong những giáo tông có tầm vóc nhất từ xưa tới nay, một bậc thầy giáo hội có một không hai của thời đại tân tiến. Hành động từ chức của ngài rốt cuộc đã làm thay đổi ngai toà phê-rô tận nền tảng. Hành động lịch sử này đã trả lại chiều kích tâm linh vốn đã được uỷ nhiệm ngay từ buổi đầu cho ngai toà đó.

Cùng với sự từ giã của Biển-đức XVI, một thời đại với những biến chuyển lịch sử trọng đại trong nhịp bước ngàn năm đã sang trang. Tám năm nhiệm kì của ngài giống như những cuộc tĩnh tâm lớn; chúng cần thiết cho Giáo Hội, để qua đó Giáo Hội củng cố thành trì nội tâm và gia tăng sức mạnh tinh thần cho mình. Nhìn như thế thì Biển-đức XVI đã bắc một nhịp cầu giữa một thời đại đang tiêu vong với cái mới đang tới – dù vẫn chưa biết cái mới đó sẽ ra sao. Giáo tông Phan-sinh tóm tắt về người tiền nhiệm mình như sau: Biển-đức XVI là „một giáo tông lớn. Lớn về lực và khả năng xuyên thấu của trí tuệ của ngài, lớn vì đóng góp quan trọng của ngài cho Thần Học, lớn vì tình yêu của ngài đối với Giáo Hội và con người, lớn vì đức hạnh và lòng đạo của ngài“. Theo Phan-sinh, „các thế hệ nối tiếp sẽ nhận ra tinh thần của ngài (Biển-đức) càng ngày càng lớn lao và quan trọng hơn“.

Những nội dung phỏng vấn sau đây được thực hiện không lâu trước ngày ngài từ chức và thời gian sau đó. Dự trù là để làm chất liệu cho một cuốn Tiểu Sử và một lần nữa hi vọng mở ra một cái nhìn thông thoáng về những nhân vật kiệt xuất nhất trong thời đại chúng ta. Cựu Giáo Tông đã đọc bản thảo và ngài đồng ý cho in. Ước gì cuốn sách này giúp độc giả phần nào bỏ đi được cái nhìn sai về ngài, đồng thời chiếu tỏa ánh sáng vào những mảng tối, đặc biệt soi tỏ nguyên nhân của việc từ chức, một biến cố đã khiến thế giới hồi hộp ngưng thở. Rốt cuộc là để hiểu hơn về con người Joseph Ratzinger và về mục tử Biển-đức XVI và để đánh giá đúng sự thánh thiện của ngài – và nhất là: để mở ra một cái nhìn khách quan về công trình của ngài, trong đó tiềm sẵn một gia sản quý cho tương lai.
Peter Seewald

 

Biển-Đức XVI: Những Trao Đổi Cuối Cùng. Bài I

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *