Về các Giáo Hội Công Giáo đông phương

 

Ngày 20 tháng 3 năm 2003 tổng thống hoa-kì Georges W. Bush nhân danh quyền lợi của nước Mĩ để đánh Irak. Lúc đó chỉ có người Hoa-kì là kẻ may ra biết được quyền lợi đó là quyền lợi nào, còn thế giới thì không. Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc từ chối cấp uỷ nhiệm. Thủ tướng Schröder nước Đức cũng không ủng hộ Bush. Ông là chính trị gia đầu tiên của Đức dám nói „không“ với Hoa-kì. Thái độ của Schröder, theo tôi, cho thấy và mở ra một tiến trình í thức mới nơi tầng lớp trí thức đức: bắt đầu hết mặc cảm với quá khứ và dám độc lập thoát ra khỏi cái bóng của „anh Hai“.

Vatican với vị đứng đầu lúc đó là giáo tông Gio-an Phao-lô II cực lực chống lại ý định gây chiến. Ngài là người, có lẽ hơn ai hết, hiểu rõ về tình hình chính trị xã hội tại Trung Đông và tại Irak nói riêng cũng như biết rõ sự thật về „các kho vũ khí hoá học của Sadam Hussein“ do CIA nguỵ tạo. Tariq Aziz, phó tổng thống và là người công giáo duy nhất trong chính phủ của Sadam Hussein, đã tới gặp ngài nhiều lần trước khi cuộc chiến nổ ra.

Giáo Hội công giáo tại Đức đứng về phía quan điểm của Giáo Tông và đã lệnh cho trên 11 000 giáo xứ trong nước: ngay khi quả bom đầu tiên của Hoa-kì nổ, mọi nhà thờ công giáo đổ chuông. Chuông báo tử. Ai chết? Cái gì chết?

Nỗi lo đầu tiên của Giáo Hội, từ Vatican cho tới Đức, là sự chết chóc phi lí đối với người dân i-rắc. Cái lo lớn hơn: Các Giáo Hội ki-tô giáo kì cựu và thiểu số tại I-rắc và trên toàn miền Trung Đông sẽ bị xoá sổ.

Nước Đức là kẻ có lí do nhất để lo. Cứ mỗi lần thế giới biến động hay chiến tranh, dù là ở Phi châu, Đông Âu, Thổ-nhĩ-kì, Trung Đông hay mãi tận Sri-Lanka hoặc Miến-điện, kim địa chấn tị nạn tại Đức lại nhảy vọt bất thường. Chỉ riêng trong vụ tường Bá-linh sập và cuộc chiến đầu thập niên 1990 tại Nam-tư, con số người tị nạn tại Đức lên đến xấp xỉ nửa triệu người. Gánh nặng phải đón nhận đông đảo người tị nạn là một chuyện. Là những người sinh hoạt trong lãnh vực tị nạn, có nhiều dịp trao đổi với giới lãnh đạo tôn giáo và chính trị, chúng tôi thường được nghe những ưu tư của họ về tương lai của các Giáo Hội ki-tô giáo tại Trung Đông. Kể từ sau thế chiến thứ nhất, Thổ-nhĩ-kì hồi giáo đã nhổ gần như sạch mấy triệu tín hữu ki-tô giáo trên phần đất phía đông (miền Anatolien) của họ, trong số đó hơn một triệu Ki-tô hữu gốc Ac-mê-ni đã bị giết bằng nhiều cách, số còn lại phải tản mác khắp thế giới, trong đó đa phần tị nạn tại Đức.

Và kết quả của cuộc chiếm đóng của Hoa-kì với tình trạng tan hoang hiện nay của I-rắc là sự xoá sổ Giáo Hội Công Giáo Can-đê tại đây. Từ 500 ngàn tín hữu nay còn được bao nhiêu trong các khu tị nạn nội địa, trên đất Li-băng và Giô-đan? Trước chiến tranh, tương quan giữa Ki-tô hữu và tín hữu islam ở I-rắc tương đối hài hoà. Khi có yếu tố hoa-kì vào, Ki-tô hữu bị coi là thù địch và bị bách hại.

Số phận của Ki-tô hữu ở Si-ri cũng không khá hơn. Tại đây không có sự hiện diện của người tây phương (chỉ có bom và súng đạn tây phương mà thôi). Nhưng phiến quân hồi giáo IS từ I-rắc kéo sang cũng mang theo cùng một chính sách: truy diệt Ki-tô hữu. Nếu mai đây chính quyền của Bashar al-Assad sụp đổ và quốc tế không có được giải pháp ổn thoả cho Si-ri, thì chắc chắn các Giáo Hội ki-tô giáo tại đây cũng sẽ không còn đất sống.

 

Các Giáo Hội Công Giáo tại Trung Đông

 

Trong số trên dưới một triệu người vào Đức tị nạn trong năm 2015, mà đa phần là từ I-rắc và Si-ri, Hội Đồng Giám Mục Đức phỏng đoán có từ 10 tới 20% là Ki-tô hữu (công giáo và chính thống). Vì thế họ đã cho phổ biến một tài liệu ngắn gọn trình bày cho bổn đạo mình biết đôi nét về các tín hữu mới này: Họ thuộc những Giáo Hội công giáo nào và cần phải quan tâm những điểm nào trong công tác mục vụ. Nhân đây tôi tổng hợp một số tài liệu, chủ yếu theo bản tóm tắt của tiến sĩ Michael Krischer trên Misso München (không rõ số), trình bày 5 Giáo Hội Công Giáo theo truyền thống đông phương hiện diện tại Trung Đông vốn có ít nhiều liên quan tới người tị nạn hiện nay tại Đức.

 

  1. Giáo Hội Công Giáo Can-đê

Hình thành từ giữa thế kỉ 16 nhờ một số tín hữu được gọi là theo phái Nestorius [chủ trương đức Ki-tô có hai tính, hai ngôi vị; đức Ki-tô chỉ là một con người được tiền định mặc lấy Thiên Tính, trở thành „đền thờ“ của Ngôi Lời – nghĩa là Ngôi Lời và Ki-tô là hai vị khác nhau; và mẹ Maria là mẹ của đức Ki-tô, chứ không phải là mẹ của Thiên Chúa] trở về với Công Giáo. Năm 1552 viện phụ Johannes Sulaqa được bầu làm thượng phụ và được gởi sang Roma để được công nhận và truyền chức. Khi trở về, ngài bắt tay vào việc cải tổ Giáo Hội mình theo đường lối trái với thượng phụ của Giáo Hội A-xi-ri, nên bị ông này giết vào năm 1555. Giáo Hội Can-đê từ đó rơi vào quên lãng. Qua truyền giáo của các tu sĩ ka-pu-zin, giám mục giáo phận Diyarbakir quay về với Công Giáo vào khoảng năm 1670 và được Roma chỉ định làm thượng phụ Giáo Hội Can-đê vào năm 1681. Các thượng phụ – từ năm 1696 được gọi là Thượng Phụ của Ba-bi-lon – kế tiếp nhau cho đến năm 1827 thì trống ngôi. Năm 1830 Roma lập một Toà Thượng Phụ mới tại Mosul (I-rắc) và toà này từ năm 1950 chuyển về thủ đô Bagdad.

Giáo Hội Can-đê có khoảng 750 ngàn tín hữu trên khắp thế giới, trong đó khoảng 450 ngàn ở I-rắc. Trước chiến tranh (2003) I-rắc có 8 giáo phận, I-ran 2, Hoa-kì 2 và Li-băng, Si-ri, Ai-cập, Thổ mỗi nơi một giáo phận. Giáo Hội Can-đê theo truyền thống nghi lễ đông si-ri; ngôn ngữ phụng vụ: tiếng Si-ri và Ả-rập.

 

  1. Giáo Hội Công Giáo Si-ri

Gồm khoảng 260 ngàn tín hữu, chủ yếu ở Li-băng, Si-ri, I-rắc và Hoa-kì. Toà thượng phụ đặt ở Beirut. Nghi lễ: tây si-ri; ngôn ngữ phụng vụ: tiếng Si-ri cổ – A-ra-mê. Giáo Hội thành lập trong thế kỉ 17 từ giáo hội mẹ là Giáo Hội Chính Thống Si-ri của An-ti-ô-ki-a, khi một giám mục chính thống trở lại Công Giáo và trở thành thượng phụ công giáo. Hiện nay (2016) bên cạnh vị thượng phụ còn có 17 giám mục. Từ thập niên 1990 GHCG Si-ri có những cố gắng tái thống nhất với Giáo Hội Chính Thống mẹ. Họ theo lịch cũ (Julius), nhưng nhiều cộng đoàn tín hữu rải rác ở hải ngoại hiện nay theo lịch mới (Gregorius) để thích ứng với hoàn cảnh mới.

  1. Giáo Hội Công Giáo Ma-rôn

Giáo Hội được đặt theo tên thánh ẩn tu Maron (350-410). Sau khi thánh nhân mất, một tu viện được hình thành, và tu viện này trở thành thành trì đức tin trong một thời gian dài kể từ sau Công Đồng Can-xê-đôn (451). Trong thế kỉ thứ 7, viện phụ của tu viện được bầu làm thượng phụ của An-ti-ô-ki-a, và sau đó tu viện dần dần phát triển thành một cộng đoàn thiêng liêng và chính trị. Tín hữu ma-rôn gặp nhiều cuộc bách hại nặng nề, nên vào thế kỉ thứ 8, họ di tản lên miền rừng núi hiềm yếu của Li-băng và tới đảo Zypern. Sự kết hợp chính thức với Roma diễn ra năm 1181. Chỉ tới cuối thế kỉ 17 các tu viện ma-rôn độc lập mới kết hợp lại thành một dòng tu duy nhất, và từ 1770 dòng được chia ra thành hai nhánh, một nhánh „Ma-rôn“ tại Li-băng và một nhánh „Ma-ri-am“ tại Si-ri. Ngày nay Giáo Hội Ma-rôn hoàn vũ có khoảng 3,4 triệu tín đồ. Toà Hồng I Thượng Phụ đặt tại Bkerké gần thủ đô Beirut. Theo nghi lễ tây si-ri; ngôn ngữ phụng vụ: tiếng Si-ri và Ả-rập.

 

  1. Giáo Hội Công Giáo Vương Đế Hi-lạp

Chữ „Vương đế“ được dịch từ „Melchitisch“; từ ngữ này được dùng cho tất cả các toà thượng phụ chấp nhận Công Đồng Can-xê-đôn (451). Trong thế kỉ 17, một số dòng thừa sai đã thành công đưa vài giám mục trở lại Công Giáo. Năm 1724, người ta đã bầu lên một lúc hai thượng phụ. Một cho giáo hội hi-lạp và một cho giáo hội roma. Thượng phụ giáo hội hi-lạp được các nhà lãnh đạo os-man (hồi giáo) thừa phận, thượng phụ phía Roma được giáo tông chấp nhận năm 1729 và từ đó hình thành nên Giáo Hội Công Giáo Hi-lạp Vương Đế. Giáo Hội này hiện có khoảng 1,6 triệu tín hữu, chủ yếu ở Trung Đông. Toà Thượng Phụ đóng ở Damaskus, bao gồm An-ti-ô-ki-a và toàn miền đông (các toà thượng phụ cũ của Alexandria và Giê-ru-sa-lem). Có 6 tổng giáo phận và và 7 giáo phận trên hai nước Li-băng và Si-ri, còn các toà thượng phụ khác thì rất nhỏ. Giáo Hội theo nghi lễ bi-zăn-tin; ngôn ngữ phụng vụ: Ả-rập.

  1. Giáo Hội Công Giáo Kốp

Chẳng bao lâu sau Công Đồng Can-xê-đôn, khi thượng phụ thành Alexandria bị cất chức và lưu đày thì xẩy ra việc chia lìa giữa Giáo Hội Ai-cập và Giáo Hội Hi-lạp. Chữ „Kốp“ dùng cho tín hữu công giáo ai-cập chỉ có sau khi người hồi giáo chiếm Ai-cập (639-641). Một thế kỉ dài dưới sự cai trị của các nhà lãnh đạo hồi giao, tín hữu kốp bị bách hại nặng nề, nhưng điểm này đã tôi luyện và khiến họ càng thêm đoàn kết. Giáo Hội Công Giáo Kốp hình thành, khi các tu sĩ phan-sinh và dòng tên lập ở Ai-cập một vài cộng đoàn kốp trung thành với Roma vào thế kỉ 17. Năm 1741 giám mục kốp của Giê-ru-sa-lem về kết hiệp với Roma và trở thành đại diện cho tất cả mọi tín hữu công giáo kốp (lúc đó khoảng 2000 người). Trong thế kỉ 19, các giáo tông ở Roma đã hai lần thử lập toà thượng phụ cho công giáo kốp, nhưng không thành. Chỉ từ 1947 mới có được sự kế tục đều đặn các thượng phụ. Hiện có khoảng 170 ngàn tín hữu công giáo kốp ở Ai-cập. Thượng phụ là một hồng i, đặt toà ở thủ đô Cairo. Nghi lễ a-lê-xan-dri; ngôn ngữ phụng vụ: Kốp và Ả-rập.

 

Sau đây là một số điểm về mục vụ mà tài liệu của HĐGM Đức nhắc nhở các giáo xứ, khi có tín hữu chính thống hoặc công giáo từ Trung Đông tới yêu cầu giúp đỡ:

 

  1. Rửa Tội. Khi cha mẹ mang con đến xin rửa tội, phải hỏi xem, họ thật sự muốn được rửa tội theo nghi thức công giáo la-tinh hay muốn có một linh mục thuộc tôn giáo họ. Điều cần biết, là dù có rửa tội theo nghi lễ la-tinh, thì em bé này sau đó cũng thuộc vào giáo hội của cha mẹ em. Điều này không những đương nhiên đúng cho tín hữu thuộc các Giáo Hội chính thống, mà cả cho tín hữu các Giáo Hội Công Giáo đông phương. Vì đã có một quy định như thế giữa Roma và các Giáo Hội Công Giáo đông phương. Quy định này và việc cấm các tín hữu công giáo đông phương bỏ đạo cũ để gia nhập Công Giáo la-tinh là để – như Công Đồng Vatican II mong muốn – các Giáo Hội này tồn tại. Vì thế, chỉ có Roma là thẩm quyền duy nhất cho phép một tín hữu công giáo theo nghi lễ đông phương được gia nhập Giáo Hội la-tinh mà thôi; cấp giáo xứ hay giáo phận không được phép.
  2. Thánh Thể. Tín hữu công giáo các Giáo Hội đông phương được phép rước lễ trong các thánh lễ công giáo roma. Các Giáo Hội Chính Thống đông phương, vì chưa kết hợp trọn đầy với Giáo Hội Roma, không cho phép tín hữu mình rước lễ trong thánh lễ công giáo. Có một luật trừ cho Giáo Hội Chính Thống Si-ri (xem thêm số 2); từ 1984 giữa Giáo Hội này với Giáo Hội Roma có một thoả ước về việc kết hợp hạn chế các bí tích (các bí tích giải tội, xức dầu và thánh thể).
  3. Rước lễ lần đầu và Thêm Sức. Tín hữu thuộc Giáo Hội Chính Thống, và cả thuộc các Giáo Hội Công Giáo đông phương, thường nhận ba bí tích (Rửa Tội, Thêm Sức, Thánh Thể) ngay lúc nhận bí tích Rửa Tội. Vì thế trẻ em còn nhỏ tuổi trong các Giáo Hội đông phương được phép rước lễ. Các em công giáo đông phương có thể tham gia học giáo lí chuẩn bị xưng tội rước lễ lần đầu và lớp thêm sức với các em trong giáo xứ công giáo, nhưng việc rước lễ của các em chẳng phải là lần đầu nữa, và các em lớp thêm sức không được nhận bí tích thêm sức lần thứ hai.
  4. Hôn Phối. Đối với Công Giáo Roma, trong bí tich hôn phối việc ưng thuận của đôi tân hôn mới là chính, linh mục chỉ có nhiệm vụ thay mặt Hội Thánh chứng nhận mà thôi. Trái lại nơi các Giáo Hội đông phương (chính thống lẫn công giáo) phép lành của vị linh mục chủ lễ mới là chính; chỉ qua phép này mà hôn phối thành sự, chứ không phải sự ưng thuận của đôi tân hôn. Vì thế, khi làm phép hôn phối, nên có hai chủ lễ: linh mục (hay phó tế) công giáo roma nhận phần hỏi sự ưng thuận của hai người, còn việc làm phép kết hợp do vị chủ lễ thuộc Giáo Hội đông phương.
  5. Xưng Tội và Xức Dầu. Khi một người đau nặng hoặc kẻ liệt muốn chịu hai bí tích này, thì mọi điều kiện cũng giống như nơi mục B. Còn các tín hữu chính thống khác, nếu muốn chịu các bí tích mà không có linh mục thuộc Giáo Hội của họ, thì các linh mục công giáo roma cũng có thể ban.

Phạm Hồng-Lam

Về các Giáo Hội Công Giáo đông phương

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *