(Trích chương 9 và 10 của Joseph Ratzinger/ Biển-đức 16: Đức Giê-su ở Nazaret)

ĐỨC GIÊSU PHỤC SINH
CÓ NGHĨA LÀ GÌ?

„Nếu như đức Kitô không được Thiên Chúa đánh thức dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng và đức tin của anh em cũng vô nghĩa. Và rồi chúng tôi hoá ra là những chứng nhân giả của Thiên Chúa, bởi vì chúng tôi đã mâu thuẫn với Thiên Chúa khi làm chứng rằng, Thiên Chúa đã đánh thức đức Kitô dậy“ (1 Cr 15,14t). Với những lời đó, thánh Phaolô đã nhấn mạnh cho chúng ta thấy niềm tin vào cuộc phục sinh của đức Giêsu Kitô mang tầm quan trọng dường nào trong toàn bộ thông điệp kitô giáo: Nó là căn cước của đức tin của Kitô giáo. Niềm tin kitô giáo đứng vững hay sụp đổ đều tuỳ thuộc vào biến cố sống lại này.
Giả như ta bỏ đi yếu tố sống lại đó, thì trong truyền tụng kitô giáo vẫn còn nhiều điểm về Thiên Chúa và về con người, về bản thể của Thiên Chúa và về tương lai của con người – vẫn còn một thứ vũ trụ quan tôn giáo – đáng cho chúng ta quan tâm, nhưng đức tin kitô giáo như vậy sẽ hết sức sống. Và như vậy, đức Giêsu vẫn là một nhân vật tôn giáo lớn, nhưng đã thất bại; và dù thất bại, dung mạo lớn lao của Người vẫn có thể bắt chúng ta phải suy nghĩ. Tuy nhiên như thế Người cũng chỉ là một phàm nhân với uy tín hạn chế theo mức độ thẩm thấu của thông điệp của Người. Người chẳng còn là nhân vật mẫu mực nữa; mẫu mực lúc đó chỉ còn tuỳ thuộc vào sự quyết đoán của chính chúng ta dựa trên những gì ta thấy có lợi trong gia sản thông điệp của Người. Và điều đó có nghĩa là không còn ai ngoài chính chúng ta. Mọi sự sẽ được quyết định tùy theo suy đoán của chính mỗi người chúng ta.
Chỉ khi đức Giêsu sống lại, lúc đó mới có được điều thực sự mới mẻ có khả năng làm thay đổi thế giới và đổi mới hoàn cảnh con người. Lúc đó, Người mới là mẫu mực cho chúng ta tin tưởng phó thác, là vì Thiên Chúa đã thực sự tỏ hiện Người ra qua đức Kitô.

Như vậy, phục sinh là điểm bản lề trong cuộc tìm kiếm dung mạo đức Giêsu. Đức Giêsu chỉ là một nhân vật của quá khứ hay của cả hiện tại, tất cả đều tuỳ thuộc vào phục sinh. Phục sinh không phải là một thành tố bên cạnh nhiều thành tố khác tạo nên dung mạo Người, nhưng nó là toàn bộ dung mạo của Người.
Vì thế, phải đặc biệt cẩn trọng lắng nghe chứng tá phục sinh của Tin Mừng Tân Ước. Nhưng khi lắng nghe nó, điểm đầu tiên chúng ta phải xác nhận, là về mặt lịch sử, chứng tá này khá rắc rối và tạo ra nhiều thắc mắc.
Chuyện gì đã xẩy ra? Rõ ràng những người đã gặp Đấng phục sinh cũng không dễ trả lời. Những người này đã phải đối diện với một thực tại hoàn toàn mới đối với chính họ, vượt ra khỏi vòng kinh nghiệm của họ. Thực tế của biến cố xẩy ra đã chinh phục họ và buộc họ phải làm chứng thế nào, thì thực tế đó đồng thời cũng xa lạ đối với họ chừng nấy. Thánh Máccô kể, khi các môn đệ rời núi chỗ Chúa biến hình, họ đã thao thức với nhau về lời Người nói: Con Người sẽ „sống lại từ cõi chết“. Họ hỏi nhau, „sống lại từ cõi chết“ có nghĩa là gì (9,9t). Mà quả thật, điều đó có nghĩa gì? Các môn đệ đã không hiểu, và họ đã phải học để hiểu ra từ từ sau khi tiếp cận với thực tại.
Ai bảo rằng, mình đã hiểu được phục sinh từ cõi chết là gì, người đó hẳn có thể đã hiểu sai các tường thuật về phục sinh và hẳn rồi họ sẽ cho đó là chuyện vô lí và chối bỏ nó. Rudolf Bultmann không tin chuyện phục sinh. Ông bảo, dù đức Giêsu có sống lại ra khỏi mộ, thì ta cũng phải nói „một biến cố thiên nhiên lạ lùng như việc làm cho một kẻ chết sống lại“ nào có ích gì cho chúng ta và nó cũng chẳng quan trọng gì về mặt hiện sinh cả (xem Neues Testament und Mythologie, tr. 19).
Mà quả vậy, nếu phục sinh chỉ có nghĩa là phép lạ của một xác chết được hồi sinh, thì rốt cuộc nó cũng chẳng liên can gì tới ta. Nó cũng chẳng quan trọng gì hơn việc các bác sĩ hồi sinh cho một người đã tắt thở. Một biến cố hồi sinh như thế sẽ chẳng tạo ra đổi thay nào cho thế giới và cho cuộc sống chúng ta. Phép lạ sống lại đó cũng chẳng khác gì chuyện sống lại của anh thanh niên ở Naim (Lc 7,11-17), của con gái ông Giaia (Mc 5,22tt.35-43 các đoạn tương đương) hoặc của anh Ladarô (Ga 11,1-44). Và sau một thời gian ngắn dài tuỳ người, những kẻ được hồi sinh đó rồi cũng sẽ trở về cõi chết mãi mãi với một cái chết bình thường.
Các chứng tá tân ước cho thấy rõ ràng, việc „sống lại của Con Người“ không phải là chuyện bình thường. Sống lại của đức Giêsu là đi vào một sự sống hoàn toàn mới; sự sống này không còn bị lệ thuộc vào định luật tử sinh, song vượt ra ngoài định luật đó – một sự sống mở ra một chiều kích làm người mới. Vì thế, sống lại của đức Giêsu không phải là một biến cố đơn lẻ, để chúng ta có thể bình thản tìm hiểu nó, và cũng không phải là một biến cố hoàn toàn thuộc vào quá khứ, nhưng đó là một „bước nhảy đột biến“ (xin đừng hiểu lầm, dùng từ ngữ này là để gợi lên một hình ảnh tương đương mà thôi). Sự sống lại của đức Giêsu mở ra một khả thể làm người mới. Khả thể này có liên can tới tất cả mọi người, và nó còn mở ra một thứ tương lai mới cho con người.
Như vậy, Phaolô hoàn toàn có lí, khi ngài cho rằng, sự sống lại của kitô hữu và sự phục sinh của đức Giêsu là hai yếu tố gắn chặt nhau không rời. Ngài nói: „Nếu kẻ chết không được đánh thức dậy, thì đức Kitô cũng không được đánh thức dậy… Nhưng đức Kitô đã được đánh thức dậy như là người đầu tiên trong những kẻ chết“ (1 Cr 15,16.20). Thánh Phaolô cho ta hay, sự sống lại của đức Kitô hoặc là một biến cố phổ quát hoặc là không. Và chỉ khi ta hiểu đó là một biến cố phổ quát, biến cố mở ra một chiều kích mới cho cuộc sống con người, thì chúng ta mới bắt đầu hiểu đúng chứng tá phục sinh của Tân Ước.
Nét cá biệt của chứng tá phục sinh trong Tân Ước là từ đó. Đức Giêsu không trở lại cuộc sống phàm nhân bình thường trong thế giới này, như Ladarô và những kẻ chết khác được Người đánh thức dậy trước đây. Nhưng Người bước vào một cuộc sống mới khác – bước vào chiều kích của Thiên Chúa, và từ chiều kích đó, Người hiện ra với các môn đồ của mình.
Đây cũng là một cái gì hết sức bất ngờ đối với các môn đệ; họ chỉ hiểu ra được nó từ từ về sau. Do-thái giáo tin vào sự sống lại của người chết vào ngày tận thế. Sự sống mới này gắn liền với việc mở ra một thế giới mới. Điều họ tin này khá dễ hiểu: Nếu như có một thế giới mới xuất hiện, thì hẳn sẽ có một cách sống mới trong đó. Nhưng Do-thái giáo không hiểu và không thể quan niệm được, làm sao lại có sự sống lại để bước vào ngưỡng cửa tối hậu và khác ngay trong thế giới đang có này. Vì thế, các môn đệ thoạt tiên chẳng hiểu gì về lời loan báo phục sinh của đức Giêsu.
Các môn đệ hiểu ra và tin vào lời Thầy mình sau khi họ đối diện với thập giá. Đã không ai nghĩ rằng, một Đấng thiên sai lại bị đóng đinh thập giá. Nhưng giờ đây, sự kiện đã xẩy ra trước mắt họ, và từ sự kiện đó, họ bắt đầu đọc hiểu Kinh Thánh một cách mới. Trong chương trước, chúng ta đã thấy, lời Kinh Thánh đã sáng nghĩa ra nhờ qua các sự kiện bất ngờ, và đối lại, cũng nhờ các lời tương ứng trong Kinh Thánh này mà các sự kiện có được ý nghĩa. Việc đọc hiểu lời Kinh Thánh theo lối mới chỉ được bắt đầu sau biến cố phục sinh, là bởi vì chỉ qua những lời này, đức Giêsu được chứng thực như là Đấng thiên sai. Giờ đây, người ta phải tìm tòi đối chiếu cả chuyện thập giá lẫn phục sinh với Kinh Thánh, đọc hiểu chúng cách mới và từ đó xác định niềm tin của mình vào tư cách Con Thiên Chúa nơi đức Giêsu.

Nhưng để các môn đệ hiểu và tin được, thì phục sinh đối với họ cũng phải là một thực tại cụ thể như thập giá. Trước hết, thực tại đó làm cho họ ngỡ ngàng. Rồi từ ngỡ ngàng do dự, họ dần dần bị khuất phục bởi thực tại đó, không thể chống lại nó được nữa: vì thực tại đó quả thật là cái gì cụ thể đã xẩy ra trước mắt họ. Đức Giêsu đang sống, và Người đã nói chuyện với chúng tôi, đã để cho chúng tôi sờ vào Người, dù Người không còn thuộc vào thế giới hữu hình này nữa.
Không thể diễn tả được cái mâu thuẫn này: Đức Giêsu đã trở nên hoàn toàn khác; Người không phải là một xác chết hồi sinh, nhưng là một người được Thiên Chúa cho sống lại cách mới và mãi mãi. Nhưng đồng thời Người lại chính là vị Thầy với hình hài như trước, dù Người không còn thuộc vào thế giới này nữa. Đó là một kinh nghiệm độc nhất vô nhị, vượt khỏi mọi khả năng kinh nghiệm bình thường, nhưng lại là một thực tại rõ mồn một trước mắt các môn đệ. Và đó là nét cá biệt của các chứng tá phục sinh: Chúng nói lên một nghịch lí vượt ngoài mọi kinh nghiệm, nhưng đồng thời lại là một thực tại hoàn toàn cụ thể.
Nhưng có thật đã xẩy ra như vậy không? Chúng ta, những con người tân tiến thời nay, có thể tin được những những chứng tá đó không? Lối nghĩ khai sáng (thuần lí) không thể tin được điều đó. Chẳng hạn như đối với Gerd Lüdemann, „các trình bày truyền thống về sự phục sinh của đức Giêsu“ đã đương nhiên „trở thành lỗi thời trước những thay đổi lớn về vũ trụ quan khoa học tự nhiên“ (dẫn theo Wilckens I/2, trang 119t). Nhưng thế nào là „vũ trụ quan khoa học tự nhiên“? Vũ trụ quan này có giá trị tới mức nào? Trong bài viết Die Frage des Weltbildes (Vấn đề vũ trụ quan) của Hartmut Gese, mà tôi muốn giới thiệu với các bạn đọc ở đây, ông đã trình bày cặn kẽ về giới hạn của giá trị đó.
Dĩ nhiên, ta không thể nói ngược lại những kết quả đã rõ ràng của khoa học. Nhưng các chứng tá phục sinh đề cập tới một điều vượt ngoài bình diện kinh nghiệm của chúng ta. Chúng nói lên điều có một không hai cho tới lúc đó – nói tới một chiều kích mới của thực tại. Ta không phủ nhận những gì đã và đang hiện hữu. Nhưng các chúng tá kia cho thấy, là hãy còn có thêm một chiều kích nữa, chiều kích mà ta tới nay chưa biết được. Chiều kích này mâu thuẫn với khoa học ư? Phải chăng chỉ có những gì đã và đang hiện hữu mà thôi? Phải chăng không thể có được cái mới, cái bất ngờ, cái không tưởng? Nếu có Thiên Chúa, thì Người không có khả năng tạo ra một chiều kích làm người mới, một thực tại mới sao? Phải chăng tạo vật trước sau vẫn đang hướng vọng về „bước đột biến“ sau hết và tối thượng, về sự liên kết giữa tận cùng và vô tận, về sự kết hợp giữa Thiên Chúa và con người, về cuộc chiến thắng sự chết?
Trong toàn bộ lịch sử sự sống, những nguồn cội cái mới quả thật rất nhỏ nhoi, mất hút, khiến ta có thể không nhìn ra. Chính Chúa cũng đã nói, „Nước Trời“ trong thế giới này nhỏ như hạt cải, là thứ hạt nhỏ nhất trong các loại hạt giống (Mt 13,31t và tương đương). Nhưng chúng mang trong mình những khả năng vô tận của Thiên Chúa. Về mặt lịch sử thế giới, sự phục sinh của đức Giêsu xem ra nhỏ nhoi, nó là thứ hạt giống nhỏ nhất của lịch sử.
Những tỉ lệ ngược ngạo đó đều nằm trong mầu nhiệm của Thiên Chúa. Cái lớn, cái mạnh rốt cuộc là cái nhỏ nhất. Và hạt cải li ti quả thật lại là cái lớn. Cũng vậy, sự phục sinh xuất hiện trong thế giới qua một vài chứng tá đầy bí ẩn. Nhưng nó lại là một khởi đầu mới thật sự – là cái mà hoàn vũ đang âm thầm chờ đợi. Nó là một biến cố lật tung mọi thứ và hiện thực, khiến chính những nhân chứng ít ỏi ban đầu cũng không thể tưởng tượng ra nổi, nhưng lại là một biến cố giáng mạnh trên họ, khiến họ chẳng còn nghi ngờ gì nữa, để rồi mạnh bạo tiến ra thế giới, hăng say làm chứng cho cuộc phục sinh thực sự của đức Kitô.

HAI LOẠI CHỨNG TÁ
KHÁC NHAU VỀ PHỤC SINH

Giờ đây chúng ta đi vào các chứng tá riêng rẽ về phục sinh trong Tân Ước. Khi tìm hiểu, ta nhận ra có hai loại chứng tá khác nhau, mà ta có thể gọi là truyền thống Tin và truyền thống Kể.

2.1 TRUYỀN THỐNG TIN

Truyền thống Tin chủ yếu cô đọng lại trong những công thức ngắn gọn ghi lại những điều cơ bản của sự kiện. Chúng nói lên căn cước – tức niềm tin – kitô giáo; chúng là dấu hiệu thể hiện niềm tin của tín hữu đối với Thiên Chúa, để tín hữu nhận ra nhau và để người ngoài nhận biết tín hữu. Tôi muốn kể ra đây ba thí dụ.
Câu chuyện Êmaus kết thúc với cảnh hai môn đệ gặp lại mười một đồng bạn đang tụ tập ở Giêrusalem và được các bạn chào đón bằng câu: „“Thầy đã thực sự sống lại và đã hiện ra với Simon“ (Lc 24,34). Đây trước hết là một thứ câu truyện ngắn, nhưng nó đã trở thành lời xác định niềm tin, vì muốn nói lên điểm chính yếu: chính sự kiện và người làm chứng cho sự kiện đó.
Sự song hành của hai công thức này ta đọc được trong đoạn 10 của thư gởi tín hữu Rôma: „Khi miệng anh tuyên xưng‚ đức Giêsu là Chúa’ và lòng anh tin rằng, Thiên Chúa đã đánh thức Người dậy, thì anh được cứu rỗi“ (câu 9). Ở đây, cũng giống như trong chuyện kể về niềm tin của Phêrô ở Xêsarê Philíppi (Mt 16,13tt), sự xác tín gồm hai phần: Trước hết là lời loan báo đức Giêsu là „Herr“ (Chúa), chữ Herr theo Cựu Ước có nghĩa là Thiên Chúa. Rồi tới sự tuyên xưng vào nội dung nền tảng của sự kiện lịch sử: Thiên Chúa đã đánh thức Người dậy từ cõi chết. Ở đây đồng thời cũng cho thấy tầm quan trọng của sự xác tín đối với kitô hữu: Tin vào biến cố phục sinh sẽ được cứu rỗi. Chúng ta được dẫn đưa vào Sự Thật cứu độ. Đây là một hình thái ban sơ của các công thức rửa tội, trong đó tính cách thiên chúa của đức Kitô được gắn liền với cuộc đời dương thế, với cuộc khổ nạn và với cuộc phục sinh của Người. Trong bí tích rửa tội, con người bước vào cuộc sống mới của Đấng phục sinh. Tin trở thành sự sống.

Xác tín quan trọng nhất trong những xác tín phục sinh chúng ta đọc được nơi đoạn 15 thư thứ nhất gởi tín hữu Côrintô. Cũng giống như nơi trình thuật về bữa ăn cuối (1 Cr 11,23-26), Phaolô nhất mực nhấn mạnh, rằng những gì ngài viết ra là không phải do ý riêng: „Trước hết, tôi đã truyền lại cho anh em điều mà chính tôi đã lãnh nhận“ (15,3). Phaolô cố tình khoác vào mình sợi xích lãnh nhận và lưu truyền. Ở đây, nơi điểm tối ư nền tảng này, đòi hỏi quan trọng nhất trước hết là sự trung thực. Và Phaolô, vốn vẫn khẳng định sự chứng tá phục sinh của mình và luôn cho rằng sứ vụ của ngài được Chúa trực tiếp trao phó, đã nhắc đi nhắc lại, là ngài viết ra từng chữ giống y những gì ngài đã lãnh nhận, và ngài lưu truyền những gì Giáo hội đã có ngay từ đầu.
Phaolô viết: „Tin mừng, mà tôi đã loan báo cho anh em, là nền cho anh em đứng trên đó. Nhờ Tin mừng này anh em được cứu rỗi, nếu anh em giữ đúng lời nó“ (15,1t). Sự quan trọng của thông điệp nền tảng này không chỉ hệ tại nơi nội dung, mà cả nơi từng câu từng chữ, không được sửa đổi chúng chút nào cả. Nhờ vào việc nối kết với truyền thống đã có ngay từ đầu này, ta có được mối ràng buộc phổ quát và sự nhất thống của niềm tin. „Dù tôi hay các vị khác rao giảng, thì chúng tôi đều rao giảng như thế, và đó là đức tin mà anh em đã chấp nhận“ (15,11). Tự tâm điểm, đức tin chỉ là một – nó nối kết tất cả mọi tín hữu.
Ở đây, các nhà nghiên cứu tự hỏi tiếp, không biết Phaolô đã lãnh nhận xác tín này – cũng như xác tín của ngài về bữa ăn cuối – cụ thể từ ai và lúc nào. Dù thế nào chăng nữa thì các xác tín đó đã là những bài giáo lí khai tâm, mà ngài, sau khi vào đạo, có lẽ đã nhận được lúc còn ở Đamát; nội dung căn bản của chúng chắc chắn xuất phát từ Giêrusalem, và thời điểm xuất phát của chúng là vào những năm 30, như vậy chúng là những chứng tá nguyên thuỷ thực sự.
Nội dung lưu truyền đã được Phaolô mở rộng ra trong lá thứ thứ nhất gởi Côrintô, khi ngài viết thêm vào đó nhiều điều, trong đó có cuộc gặp gỡ của chính ngài với Đấng phục sinh. Thánh Phaolô coi việc ngài viết thêm vào nội dung giáo lí lưu truyền chuyện ngài gặp Đấng phục sinh và sứ mạng tông đồ được giao phó của ngài là điều đương nhiên. Đối với tôi, việc làm này của ngài xem ra quan trọng cho một Giáo hội đang hình thành. Ngài đường đường xác tín, rằng mạc khải của Đấng phục sinh cho ngài cũng thuộc vào tiến trình xây dựng niềm tin, rằng đó cũng là một thành tố đức tin cơ bản của Giáo hội hoàn vũ.
Ta hãy nghe toàn bộ những gì ngài viết:

„3 Đức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như
lời Kinh Thánh,
4 và Người đã được mai táng.
Và ngày thứ ba Người đã được đánh thức dậy,
đúng theo lới Kinh Thánh.
5 Và Người đã hiện ra với ông Kêpha, rồi với
nhóm Mười hai,
6 Sau đó hiện ra với hơn năm trăm anh em một
lượt; trong số ấy phần đông hiện nay còn sống.
7 Tiếp đó hiện ra với ông Giacôbê, rồi với tất cả
các tông đồ.
8 Sau hết, Người cũng đã hiện ra với tôi, một kẻ
bất ngờ, một kẻ „sinh non“ (1 Cr 15,3-8).

Theo quan điểm của phần đông các nhà chú giải, nội dung tuyên tín ban đầu chấm dứt nơi câu 5, nghĩa là nơi biến cố hiện ra với Kêpha và nhóm Mười hai. Phaolô đã chiếu theo những lưu truyền khác để thêm vào chuyện hiện ra với Giacôbê, với hơn năm trăm anh em và với „tất cả“ các tông đồ; chữ tông đồ ngài dùng ở đây không hạn chế trong nhóm Mười hai. Giacôbê là nhân vật quan trọng, vì ông thuộc vào gia đình đức Giêsu (xem Kc 3,20t.31-35; Ga 7,5) và là người ở lại cầm đầu Giáo hội mẹ, sau khi Phêrô phải trốn khỏi Giêrusalem.

Cái chết của đức Giêsu

Giờ đây, ta hãy trở lại và suy tư chín chắn với lời tuyên tín căn bản. Tuyên tín khởi đầu bằng câu: „Đức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh“. Sự kiện chết được diễn nghĩa bằng hai phụ tố: „cho tội lỗi chúng ta“ và „đúng như lời Kinh Thánh“.
Ta hãy bắt đầu với phụ tố thứ hai. Đây là điểm quan trọng nói lên cung cách của Giáo hội đang hình thành tiếp cận các sự kiện liên quan tới cuộc đời đức Giêsu. Điều Đấng phục sinh đã dạy cho hai môn đệ trên đường Êmaus giờ đây trở thành phương pháp căn bản để hiểu hình tượng đức Giêsu: Tất cả những gì xẩy đến với Người đều là sự ứng nghiệm „Lời (đã có trong) Kinh Thánh“. Chỉ qua Kinh Thánh Cựu Ứơc ta mới có thể hiểu Người. Về việc đức Giêsu chết trên thập giá, Kinh Thánh cho hay: Cái chết đó không phải là ngẫu nhiên. Nó nằm trong liên hệ giữa lịch sử Thiên Chúa với con người, ý nghĩa và hệ luận của cái chết đó xuất phát từ lịch sử này. Cái chết đó là một biến cố ứng nghiệm lời đã viết trong Kinh Thánh. Biến cố này hàm chứa trong nó cái Logos vốn xuất phát từ Lời rồi lại đi vào Lời, nó phù hợp và ứng nghiệm với Lời.
Để hiểu rõ hơn việc đúng như Lời đó, ta có thêm một phụ tố khác: Đó là một cái chết „cho tội lỗi chúng ta“. Bởi vì cái chết này có liên hệ với Lời Chúa, nên nó có liên hệ với chúng ta, nó là một cái chết „cho“. Trong đoạn nói về cái chết thập giá của đức Giêsu, chúng ta đã thấy có biết bao nhiêu Lời đã được đưa ra hậu trường để minh chứng, trong số đó quan trọng nhất là bài ca thứ tư về kẻ tôi tớ Thiên Chúa (Is 53). Vì cái chết của đức Giêsu ở đây được nối vào Lời và tình yêu Thiên Chúa, nên cái chết này không thuộc vào loại cái chết do tội nguyên tổ do hậu quả kiêu ngạo của con người. Con người muốn bằng như chính Thiên Chúa, nên nó đã rơi vào kiếp nghèo hèn và phải kết thúc bằng phận chết.
Cái chết của đức Giêsu khác hẳn: Nguyên nhân của cái chết này không phải là sự kiêu ngạo của con người, nhưng nó xuất phát từ việc tự hạ mình của Thiên Chúa. Nó không phải là hậu quả tất yếu của một kiêu ngạo phản sự thật, nhưng là một hành động tình yêu, qua đó chính Thiên Chúa bước xuống mặc lấy thân phận con người, để kéo con người lên trở lại với Thiên Chúa. Cái chết của đức Giêsu không phải là phán quyết của quan toà ở lối ra khỏi vườn địa đàng, nhưng nó định cư trong các bài ca của kẻ tôi tớ Thiên Chúa. Như vậy, đó là cái chết liên quan tới việc chuộc tội – cái chết tạo hoà giải và trở thành ánh sáng cho muôn dân. Do vậy ta có được sự diễn giải kép: Từ việc „Người đã chết“ giờ đây có thêm lời tuyên tín do Phaolô chuyển đi tiếp: từ thập giá tới phục sinh.

Vấn đề mộ trống

Câu tiếp trong kinh Tin Kính nghe ra cộc lốc: „và được táng trong mộ“. Nó nói lên cái chết thật sự, một cái chết chung phần hoàn toàn với số phận người trần. Với cái chết cay đắng trong mộ, kết cuộc của đức Giêsu xem ra vô vọng. Ai cũng biết mộ của Người ở đâu. Tới đây, đương nhiên câu hỏi tiếp được đặt ra ngay: Người vẫn nằm trong mộ? Hay mộ trống, sau khi Người đã sống lại?
Thần học hiện đại bàn rất kĩ câu hỏi đó. Và câu kết luận thường là: Mộ trống chưa hẳn là bằng chứng cho sự phục sinh. Có thể giải thích chuyện mộ trống bằng nhiều cách khác nhau. Vì thế người ta đi đến kết luận, vấn đề mộ trống không phải là chuyện quan trọng, có thể bỏ qua một bên. Nói như thế, thường cũng hàm ý rằng, mộ không trống, và như vậy tránh được việc cãi cọ với khoa học tân thời về khả năng xác chết sống lại. Nhưng chuyện không đơn giản như vậy.
Dĩ nhiên mộ trống chưa hẳn là bằng chứng cho việc sống lại. Theo Gioan, Maria ở Mácđala tới thấy mộ trống, nghĩ rằng ai đó đã đánh cắp xác Thầy mình. Quả thật, mộ trống không chứng minh được việc sống lại. Nhưng câu hỏi ngược lại được đặt ra: Phải chăng có sống lại mà xác vẫn còn trong mộ? Có thể nào đức Giêsu đã sống lại mà xác Người vẫn còn trong mộ? Ngày nay, người ta tạo ra những câu chuyện sống lại, trong đó số phận của thân xác chẳng quan trọng. Tuy nhiên ở đây nội dung sống lại lại quá mập mờ, khiến ta phải tự hỏi, Kitô giáo lúc đó đã phải đối diện với loại thực tế nào.
Thomas Söding, Ulrich Wilckens và các tác giả khác nhận xét đúng: Vào thời đó ở Giêrusalem, nếu bảo sống lại mà xác vẫn còn nằm trong mộ, thì chẳng ai tin nổi. Vì thế, phải nói rằng, dù việc mộ trống không thể chứng minh cho sự sống lại, nhưng nó đã là điều kiện cần thiết cho niềm tin sống lại, bởi vì người ta quan niệm sự sống đi liền với thân xác và con người toàn diện.

Thánh Phaolô không nói rõ chuyện mộ trống trong thư mình, điểm này ngài cho là điều đương nhiên. Cả bốn trình thuật Tin Mừng khác đều nói rõ chuyện mộ trống.
Để hiểu ý nghĩa thần học chuyện mộ trống, tôi thấy có một đoạn trong bài giảng ngũ tuần của thánh Phêrô xem ra quan trọng, trong đó lần đầu tiên ngài thông báo việc Chúa sống lại cho đám đông tụ họp. Ngài không nói với họ bằng ngôn từ riêng của mình, nhưng đã dùng mấy câu Thánh Vịnh 16,9-11: „…thân xác con sẽ nghỉ ngơi trong hi vọng vững vàng; vì Chúa chẳng bỏ mặc con trong cõi âm ti, cũng không để kẻ thành tín Ngài phải nhìn thấy sự rữa nát. Chúa chỉ cho con đường đi tới sự sống…“ (Cv 2,26tt). Thánh Phêrô trích Thánh Vịnh theo bản Kinh Thánh tiếng Hi-lạp, bản này khác với bản Do-thái với nội dung như sau: „Chúa chẳng bỏ mặc con trong cõi âm ti; Ngài không để kẻ thành tín Ngài phải nhìn thấy mộ phần; Ngài chỉ cho con đường tới sự sống“ (Tv 16,10t). Theo nội dung này thì kẻ cầu khẩn tin chắc, rằng Thiên Chúa cũng sẽ bảo vệ mình trong cơn hoạn nạn đang gặp phải và sẽ cứu mình khỏi chết; rằng mình sẽ được sống trong chắc chắn: Mình sẽ không phải nhìn thấy mộ phần. Khác với câu trích của Phêrô: Ở đây cho thấy, người cầu khẩn sẽ không ở lại trong âm ti và sẽ không nhìn thấy sự rữa nát.
Phêrô nghĩ người cầu khẩn đó là Đavít và giờ đây ngài nhận ra rằng, Đavít đã không được hưởng cái hi vọng đó. Ngài nói: „Ông (Đavít) đã chết và được mai táng, và mộ của ông còn ở giữa chúng ta cho đến ngày nay“ (Cv 2, 29). Mộ và xác trong đó là dấu chứng cho tình trạng không-sống-lại. Nhưng lời Thánh Vịnh quả lại đúng: Đavít được Thánh Vịnh nói tới ở đây là Đavít chung cuộc; và Đavít chung cuộc này là đức Giêsu, vì lời hi vọng kia đã ứng nghiệm nơi Người: „Chúa không để kẻ thành tín của Ngài nhìn thấy sự rữa nát“.
Bài giảng kia có thật là của Phêrô không, hay đã do ai đó soạn thảo, và bài này được viết cụ thể lúc nào và ở đâu, tất cả những điểm này ta không cần phải thảo luận ở đây. Dù sao, đây là một lối rao giảng về phục sinh cổ xưa, và nội dung của nó rất được Giáo hội sơ khai coi trọng, vì nó được gán cho chính thánh Phêrô là tác giả và được coi là lời rao giảng nguyên thủy về phục sinh.

Nếu ở Giêrusalem từ nguyên thuỷ đã có truyền thống tin vào sự phục sinh của đức Giêsu đúng theo Kinh Thánh, truyền thống mà ta biết được qua thư của Phaolô, thì chắc chắn Thánh Vịnh 16 đã là một chứng cớ kinh sách quan trọng quyết định cho Giáo hội đang hình thành thời đó. Thánh Vịnh này nói rõ, đức Giêsu – vị Đavít chung cuộc – sẽ không phải nhìn sự rữa nát của thân xác mình, Người sẽ phải được sống lại thực sự.
„Không nhìn thấy sự rữa nát thân xác“ – đó chính là định nghĩa của sự sống lại. Thời đó, sự rữa nát được coi là dấu hiệu chết thật sự. Rữa nát thân xác có nghĩa là sự chết toàn thắng và con người được trả lại về vũ trụ. Con người xác phàm không còn nữa, nó chỉ có thể còn là một cái bóng mập mờ trong cõi âm ti.
Với cái nhìn đó, Giáo hội cổ thời tin rằng, xác đức Giêsu đã không rữa. Và vì thế, Người không ở lại trong cõi chết, Người đã thực sự chiến thắng sự chết.
Quan điểm của Giáo hội cổ thời dựa theo Thánh Vịnh 16 (được ghi trong bản Hi-lạp Septuaginta*) trên đây cũng là quan điểm trong suốt thời của các Thánh phụ. Quan điểm đó tin rằng, xác đức Giêsu đã không rữa nát. Trong ý nghĩa đó, mồ trống là một sự kiện „đúng theo Kinh Thánh“ quan trọng trong xác tín phục sinh. Nhiều nhà thần học tân thời cho rằng, rữa nát thân xác và sống lại là hai yếu tố có thể đi đôi với nhau. Cái nhìn này hoàn toàn đi ngược lại cái nhìn của Kinh Thánh. Giáo hội thời đó chắc chắn đã không thể loan truyền sự phục sinh của đức Giêsu, nếu như xác Người vẫn còn nằm trong mồ.

Ngày thứ ba

Ta trở lại kinh Tin Kính với câu tiếp: „Ngày thứ ba Người được thức dậy như lời Kinh Thánh“ (1 Cr 15,4). „Như lời Kinh Thánh“ có giá trị cho toàn câu văn, chứ không có giá trị riêng cho „ngày thứ ba“. Điểm cơ bản ở đây: chính việc sống lại đã xẩy ra đúng như lời kinh sách – phục sinh trở thành toàn bộ lời hứa đã được thể hiện từ Lời tới hiện thực nơi đức Giêsu. Như vậy, ở đây ta được phép nghĩ tới Thánh Vịnh 16 và cả tới bản văn liên hệ của Isaia 53. Riêng „ngày thứ ba“ thì không có chứng cứ trực tiếp nào từ Kinh Thánh.
Các tác giả như Hans Conzelmann hay Martin Hengel và Anna Maria Schwemer cho rằng, „ngày thứ ba“ có lẽ được „dệt ra“ từ sách Hôsê (6,1t). Lí luận này không vững. Đoạn văn như sau: „Nào! Hãy trở lại với Giavê, vì Người đã vấu xé ta và cũng sẽ lại chữa lành ta… Người sẽ làm ta hồi tỉnh sau hai ngày, và ngày thứ ba Người sẽ cho ta chỗi đậy, cho ta sống trước nhan Người“. Đoạn văn này là lời kinh ăn năn của Israel đầy tội lỗi. Nó chẳng liên quan gì tới chuyện sống lại từ cõi chết. Đoạn văn này đã không được Tân Ước nhắc đến, và suốt thế kỉ thứ 2 nó cũng không được nhắc đến (xem Hengel/Schwemer, Jesus und das Judentum, tr. 631). Nó đã chỉ được dùng để ám chỉ việc sống lại vào ngày thứ ba, sau khi biến cố phục sinh xẩy ra và biến cố này đã tạo cho ngày thứ ba này có một tầm quan trọng đặc biệt.
Ngày thứ ba không phải là một ngày mang ý nghĩa thần học. Đó là ngày của một biến cố đã làm thay đổi tận căn thái độ của các môn đệ, vốn hoảng loạn sau khi thấy Thầy mình bị đóng đinh thập giá. Josef Blank đã viết về ngày đó như sau: „Ngày thứ ba là một thời điểm trùng hợp với điều lưu truyền của kitô hữu thời nguyên thuỷ trong các Tin Mừng và nó muốn nói tới việc khám phá ra mộ trống“ (Paulus und Jesus, tr. 156).
Tôi muốn thêm vào câu của Blank điểm này: Và nó muốn nói tới cuộc gặp gỡ đầu tiên với Đấng phục sinh. Ngày thứ nhất trong tuần – tức ngày thứ ba sau ngày thứ Sáu – đã được Tân Ước rất sớm nói tới như là ngày hội họp và dâng lễ của cộng đoàn kitô giáo nguyên thuỷ (xem 1 Cr 16,2; Cv 20,7; Kh 1,10). Như ta đã biết, Inhaxiô ở Antiôkia (Cuối thế kỉ thứ 1, đầu thế kỉ thứ 2) coi ngày chủ nhật là một thứ thời điểm cá biệt của kitô hữu đối lại ngày sabát của tín hữu do-thái giáo: „Nếu giờ đây những kẻ lữ hành trong các tập tục cũ đã tới được nguồn hi vọng mới và không muốn giữ ngày sabát nữa, nhưng muốn sống theo ngày của Chúa, đây cũng là ngày mở ra cho đời ta đi tới – qua Người và cái chết của Người… (Ad Magn. 9,1).
Sabát là một ngày rất quan trọng của Cựu Ước, như trong trình thuật tạo dựng và trong mười giới răn cho thấy. Bỏ nó để thay vào một ngày khác quả là một biến cố cách mạng, có thể mang lại những hệ quả không lường. Như vậy, phải có một biến cố phi thường nào đó mới tạo ra được sự thay đổi văn hoá tín ngưỡng về những ngày trong tuần này. Ở đây, những phỏng đoán thần học không đủ. Với tôi, việc mừng ngày chủ nhật của cộng đoàn kitô hữu tiên khởi là một trong những chứng cứ mạnh nhất cho thấy, là đã có một cái gì phi thường xẩy ra – đó là biến cố khám phá ra mộ trống và gặp gỡ Đấng phục sinh.

Các nhân chứng

Câu 4 của thư thứ nhất gởi Côrintô nói về sự kiện phục sinh. Bắt đầu từ câu 5 nói về các nhân chứng: „Người hiện ra với ông Kêpha, rồi với nhóm Mười Hai“. Nếu chúng ta được phép coi câu này như là câu cuối của công thức Giêrusalem cũ, thì việc nêu tên những người được hiện ra mang ý nghĩa thần học rất quan trọng: Nó nói lên chính nền tảng đức tin của Giáo hội.
Quả thật, nhóm „Mười Hai“ trước sau vẫn là viên đá tảng, mà Giáo hội hằng luôn nhắc tới. Thứ đến là sứ mạng đặc biệt của Phêrô. Sứ mạng này Phêrô nhận được lần đầu tiên ở Xêdarêa Philípi, được xác định trong bữa ăn chia tay (Lc 22,32) và nó đồng thời đưa Phêrô vào cấu trúc thánh thể của Giáo hội. Giờ đây, sau khi sống lại, đức Giêsu lại hiện ra trước hết với Phêrô rồi tới nhóm Mười Hai. Như vậy là Chúa muốn một lần nữa nhắc nhở Phêrô về sứ mạng đặc biệt của ông.
Nếu làm kitô hữu chủ yếu là tin vào Đấng phục sinh, thì chứng tá đặc biệt của Phêrô là một xác nhận về sứ mạng làm đá tảng trên đó xây dựng Giáo hội. Gioan, trong tường thuật của mình, đã ghi lại ba lần Đấng phục sinh hỏi Phêrô: „Anh có yêu Thầy không“? Và ba lần Chúa đều lập lại, là hãy chăn dắt đàn chiên của Thầy. Sứ mạng của Phêrô đối với đức tin của toàn thể Giáo hội, như vậy, một lần nữa lại được nhấn mạnh (Ga 21,15-17). Và như vậy, tường thuật phục sinh tự nó đã chuyển qua Giáo hội học: Gặp Đấng phục sinh cũng có nghĩa là nhận lãnh một sứ mạng, và Giáo hội bắt đầu hình thành từ đây với vóc dáng cụ thể.

2.2 TRUYỀN THỐNG KỂ

Sau khi điểm qua phần quan trọng nhất của truyền thống Tin, giờ ta đi vào truyền thống Kể. Trong lúc truyền thống Tin là những công thức đức tin ngắn gọn, chắc nịch và mang tính trói buộc có khi phải theo từng chữ cho toàn thể mọi kitô hữu, thì truyện kể (truyền thống Kể) về những cuộc hiện ra của Đấng phục sinh thay đổi tuỳ theo truyền thống địa phương của Giêrusalem và Galilê. Chúng không mang tính trói buộc phải tin trong từng chi tiết như nơi truyển thống Tin, dù rằng chúng đã được đưa vào Tin Mừng và được coi như là chúng cứ có giá trị, giúp cho đức tin có được dáng dấp và nội dung. Các điều khoản tín lí nơi truyền thống Tin xuất phát và hình thành nên từ các truyện kể. Các điều khoản này là phần hạt nhân cô đọng của các truyện kể và đồng thời lại dẫn chúng ta tới các truyện kể.
Khi đọc bốn Tin Mừng, ai cũng nhận ra ngay có sự khác biệt trong các trình thuật phục sinh. Matthêu tường thuật lần hiện ra với các phụ nữ bên mồ trống và lần với mười một tông đồ ở Galilê. Luca chỉ biết có lần hiện ra ở Giêrusalem mà thôi. Gioan ghi lại những lần hiện ra cả ở Giêrusalem lẫn ở Galilê. Không tác giả Tin Mừng nào tường thuật về chính việc sống lại của đức Giêsu. Theo các ngài, đó là một diễn tiến trong mầu nhiệm thiên chúa giữa đức Giêsu với Cha Người; Chúa Cha là Đấng ta không mường tượng cụ thể được, thiên tính của Người vượt mọi kinh nghiệm của người trần.
Có một vấn đề khá lạ về việc kết thúc của Tin Mừng Máccô. Theo các bản chép tay đáng tin cậy, Tin Mừng này chấm dứt với câu 16,8: „Đoạn các bà ra khỏi mộ và hoảng hồn hoảng vía chạy trốn. Và các bà chẳng nói gì với ai, vì sợ quá“. Như vậy, đoạn Tin Mừng xác thực này kết thúc với sự sợ hãi và hoảng hốt của các bà. Trước đó, Máccô kể chuyện các bà tới định để tẩm dầu thơm nhưng thấy mộ trống, và rồi thiên thần hiện ra báo cho họ biết, là đức Giêsu đã sống lại và nhắn các bà hãy đi nói cho các môn đệ, nhất là „cho Phêrô“ biết, là Người đúng như lời hứa sẽ tới Galilê trước họ. Thật không hiểu được, tại sao Tin Mừng lại chấm dứt với sự im lặng của các bà. Họ còn phải đi thông báo cho các môn đệ nữa chứ. Máccô hẳn biết rõ về cuộc hiện ra với Phêrô và nhóm Mười Hai; hai biến cố này đã được nói tới trong lá thư thứ nhất của Phaolô gởi tín hữu Côrintô, vốn là một bản văn đã có lâu trước Tin Mừng Máccô. Ta không hiểu, tại sao văn bản lại kết thúc ở đó. Trong thế kỉ thứ hai, người ta đã nối thêm vào đoạn kết này một tường thuật tổng hợp, trong đó ghi lại những lần hiện ra quan trọng nhất cùng với sứ mạng đi rao giảng cho muôn dân của các môn đệ (16,9-20). Dù sao, cho dẫu kết thúc đột ngột, Tin Mừng Máccô cũng đã nói tới việc các bà khám phá ra mộ trống, dấu chỉ của sự sống lại, và đã đề cập tới những lần hiện ra với Phêrô và nhóm Mười Hai. Ta cứ tạm chấp nhận sự chấm dứt đột ngột này là điều không thể lí giải.

Truyền thống kể tường thuật những cuộc gặp gỡ với Đấng phục sinh và về những gì Người đã nói ra trong các lần gặp đó; truyền thống tin chỉ giữ lại những sự kiện quan trọng nhất cho niềm tin mà thôi: Như vậy, một lần nữa, ta có thể nói lại cách khác về sự khác biệt cơ bản giữa hai loại truyền thống. Và đây là những cái khác biệt cụ thể:
Cái khác thứ nhất: Truyền thống tin chỉ nhắc đến các nhân chứng đàn ông và tên của họ, trong khi truyền thống kể đặt phụ nữ vào một vai trò quyết định, phải nói là ưu tiên hơn đàn ông. Sở dĩ như vậy là vì luật pháp do-thái chỉ cho phép đàn ông làm chứng trước toà mà thôi, còn chứng đàn bà bị coi là không đáng cậy. Và như vậy, các truyền tụng „chính thức“ – những truyền tụng có giá trị trước toà do-thái và toà thế giới – phải tuân thủ luật lệ này, nếu muốn câu chuyện về đức Giêsu được nhiều người chấp nhận.
Các truyện kể, trái lại, không bị trói buộc trong cơ cấu luật lệ trên đây, chúng cho thấy tầm rộng của kinh nghiệm phục sinh. Cũng như trên đồi Canvê chỉ toàn là phụ nữ – trừ Gioan, thì ở đây cũng chỉ có các phụ nữ là người được gặp Đấng phục sinh trước nhất. Về cấu trúc giáo luật, Giáo hội đặt nền trên Phêrô và mười một tông đồ, nhưng về mặt thực tế cuộc sống Giáo hội, phụ nữ luôn có mặt; họ là những người mở cửa cho Chúa, cùng đi với Người đến thập giá, và vì thế cũng được gặp Đấng phục sinh.

Các lần hiện ra với Phaolô

Cái khác thứ hai: Truyền thống kể không những thông tin, mà còn kể ra chi tiết cụ thể của câu truyện. Nó là một bổ túc cho truyền thống tin. Sau khi phục sinh, đức Giêsu không trở lại với thân xác người phàm, nhưng đã bước vào một hình thái làm người mới. Như vậy thì ta có thể tưởng tượng ra được những lần hiện ra sẽ phải như thế nào không?
Trước hết, có một khác biệt dễ thấy giữa câu chuyện hiện ra với Phaolô được ghi lại trong Công Vụ Tông Đồ và những câu truyện hiện ra với các tông đồ và phụ nữ trong bốn Tin Mừng.
Theo cả ba tường thuật của Công Vụ Tông Đồ về cuộc trở lại của Phaolô, lần hiện ra với Phaolô có hai yếu tố: một nguồn sáng „sáng hơn mặt trời“ xuất hiện (26,13) và kèm theo đó là một giọng nói „bằng tiếng Do-thái“ nói với Saulô (câu 14). Trong tường thuật thứ nhất, những người đi theo nghe được tiếng nói, nhưng „chẳng thấy ai cả“ (9,7). Tường thuật thứ hai trái lại: Họ „thấy ánh sáng, nhưng không nghe được giọng nói của người đang nói với tôi“ (22,9). Tường thuật thứ ba chỉ nói rằng, tất cả mọi người đều té xuống đất giống như Saulô.
Như vậy, rõ ràng có sự khác biệt nhận thức giữa Saulô và những người đi theo ông; tuy chỉ Saulô là kẻ trực tiếp nhận được thông điệp, nhưng những người đi theo, một cách nào đó, cũng là nhân chứng cho một biến cố lạ thường.
Đối với nhân vật trực tiếp nhận thông điệp là Saulô-Phaolô, hai yếu tố kia gắn liền với nhau: ánh sáng toả chiếu – thứ ánh sáng làm liên tưởng tới biến cố trên núi Tabo – Đấng phục sinh là ánh sáng (xem Phần I, chương 9, số 2: Biến hình); thêm vào đó là câu nói, qua đó đức Giêsu tự đồng hoá mình với Giáo hội bị bách hại và Người đồng thời trao cho Saolô một sứ vụ. Trong khi tường thuật thứ nhất và thứ hai nói tới việc Chúa sai Saolô đi tới Đamát và ở đó Chúa sẽ cho ông biết rõ hơn về sứ vụ của mình, thì tường thuật thứ ba nói rõ về sứ vụ của Saolô như sau: „Hãy chỗi dậy và đứng lên! Vì Ta hiện ra với ngươi là để chọn ngươi làm kẻ phục vụ và nhân chứng cho những gì ngươi đã thấy và cho những gì Ta sẽ nói với ngươi. Ta muốn cứu ngươi khỏi dân này và các dân ngoại, là những nơi Ta sai ngươi tới để mở mắt cho họ, để từ bóng tối họ sẽ nhìn thấy ánh sáng và từ quyền lực của Satan họ sẽ quay về với Thiên Chúa. Nhờ tin vào Ta, tội lỗi của họ sẽ được tha và họ sẽ được chia phần gia sản với các bậc thánh hiến“ (Cv 26,16tt).
Dù ba tường thuật có những điểm khác nhau, cái chung nhất của cả ba vẫn là: Hiện ra (ánh sáng) và Lời đi đôi với nhau. Bản chất của Đấng phục sinh là ánh sáng và Người nói chuyện với Phaolô như một con người với ngôn ngữ loài người. Một mặt, Lời của Người là một sự tự đồng hoá, tự đồng hoá này đồng thời cũng có nghĩa là đồng hoá với Giáo hội bị bách hại, và mặt khác Lời đó là một sứ vụ, mà nội dung của nó ta sẽ tìm hiểu trong phần kế tiếp.

Những lần hiện ra của đức Giêsu trong các Tin Mừng

Những cuộc hiện ra được trình thuật trong bốn Tin Mừng thì lại mang dạng hình hoàn toàn khác. Một mặt, Chúa hiện ra dưới dạng một phàm nhân: Người cùng đi với hai môn đệ trên đường Êmaus; Người để cho Tôma sờ vào vết thương. Luca còn cho hay, Người đã nhận ăn một miếng cá, để minh chứng thân xác thật của mình cho các môn đệ. Nhưng dù vậy, theo các trình thuật đó, Người vẫn không phải là một người phàm như trước đây.
Thoạt tiên các môn đệ không nhận ra Người. Không chỉ hai môn đệ trên đường Êmaus, mà cả Maria ở Mácđala và những người ở hồ Giênêdarét cũng không nhận ra Người: „Lúc bình minh tới, Người đứng ở bờ hồ. Nhưng các môn đệ không biết đó là đức Giêsu“ (Ga 21,4). Chỉ sau khi Người sai các ông chèo ra khơi một lần nữa, lúc đó người môn đệ yêu quý mới nhận ra Thầy mình: „Và người môn đệ được đức Giêsu yêu quý nói với Phêrô: Thầy đó!“ (21,7). Có thể nói, đó là một sự nhận biết từ nội tâm, nhưng vẫn bị phủ trùm bởi màn bí nhiệm. Là vì cho tới sau khi bắt được cá, Chúa mời các ông ăn, các ông vẫn chưa nhận ra Người: „Không ai trong các môn đệ dám hỏi Người là ai, vì họ biết, đó là Người“ (21,22). Họ biết Người từ thâm tâm, nhưng không nhận ra Người qua hình thù.
Cái lối nhận ra và không nhận ra đó phù hợp với cách hiện ra. Đức Giêsu bước vào phòng trong khi cửa đóng, Người đột ngột hiện diện giữa các ông. Và cũng với cách thế đó, Người lại biến mất, như lần gặp hai môn đệ trên đường Êmaus. Người mang một thân xác cụ thể, nhưng Người lại không bị lệ thuộc vào quy luật của thân xác, không bị trói buộc vào các định luật không gian và thời gian. Bản chất sự hiện diện mới, đặc biệt và đầy bí ẩn này của đức Giêsu thể hiện ra trong cái biện chứng lạ lùng về sự riêng nhất và khác biệt, về sự hiện hữu thân xác thật nhưng lại không bị ràng buộc bởi các điều kiện thân xác. Là vì cả hai đều đúng cho Người: Người vẫn là người phàm với một thân xác – và Người lại là một cái gì mới, vượt lên trên sự hiện hữu thông thường.

Cái biện chứng vốn là bản chất của Đấng phục sinh đó được kể lại trong các câu truyện một cách vụng về, và vì thế nó mới thật. Giả như người ta đã phải sáng chế ra biến cố phục sinh, thì người ta tất phải nhấn mạnh đến thân xác cụ thể là yếu tố có thể khả giác, và người ta có lẽ cũng còn kể thêm sức mạnh đặc biệt như là dấu chỉ quyền năng của Đấng sống lại. Nhưng trong tất cả các trình thuật đều toả ra sự mâu thuẫn của điều được kinh nghiệm; qua hỗn hợp bí ẩn giữa cái riêng nhất và khác biệt ta nhận ra một lối gặp gỡ mới khó hiểu và vô lí, nhưng nhờ vậy mới có được nét thật trong câu truyện.

Theo tôi, muốn hiểu các cuộc hiện ra của Đấng phục sinh, nên đọc lại những lần hiện ra của Thiên Chúa trong Cựu Ước. Ở đây, tôi muốn nhắc đến ba loại hiện ra trong đó.
Trước hết là lần hiện ra với Ápraham nơi cây sồi ở Mamrê (Kn 18,1-33). Có ba người đàn ông tới bên lều Ápraham; và tự thâm tâm, Ápraham biết ngay đó là „Chúa“ tới thăm ông. Sách Giôsuê kể cho ta hay, khi ông đang ngồi trông, thì bỗng nhiên có một người đàn ông tay cầm kiếm trần tới trước mặt. Giôsuê không biết người này, cất tiếng hỏi: „Ông thuộc về phe chúng tôi hay phe địch?“ Khách trả lời: „Không, tôi là trưởng cơ binh của Thiên Chúa… Hãy cởi giày khỏi chân, vì chỗ ông đang đứng là đất thánh“ (5,13tt). Hai câu truyện trong sách Thẩm Phán về Giđêôn (6,11-24) và Simson (13) cũng đặc biệt, trong đó vừa khi người đàn ông hiện ra biến đi một cách lạ lùng, thì cũng là lúc nhân vật đó được nhận diện là „thiên thần của Thiên Chúa“. Cả hai lần đều có ngọn lửa thiêu cháy của ăn dâng cúng, trong khi „thiên thần của Thiên Chúa“ biến mất. Theo ngôn ngữ thần thoại thì điều trên đây một mặt nói lên sự gần gũi của Thiên Chúa tự hiện thân như một người phàm, mặt khác cho thấy nét khác lạ vượt ngoài quy luật cuộc sống vật chất của Người.
Nhưng đấy chỉ là những trường hợp tương tự mà thôi, là vì cuộc hiện ra của Đấng phục sinh mang một nét hoàn toàn mới. Cái mới đó: đức Giêsu là một người phàm thật sự, Người đã đau khổ và đã chết như một người phàm. Nhưng giờ đây Người sống lại trong một chiều kích sống mới, chiều kích của Thiên Chúa hằng sống. Đức Giêsu vừa là người vừa là chính Thiên Chúa đã mặc lấy thân xác con người.

Như vậy có hai làn ranh quan trọng. Thứ nhất, đức Giêsu không trở lại với cuộc sống khả nghiệm, một cuộc sống vốn lệ thuộc vào qui luật của sự chết, nhưng Người sống lại cách mới trong cộng đoàn với Thiên Chúa, hoàn toàn thoát khỏi mọi hạn chế của sự chết. Điểm thứ hai cũng quan trọng: Các cuộc gặp gỡ Đấng phục sinh chẳng phải là những biến cố nội tâm hay là những kinh nghiệm thần bí. Nhưng đó là những lần gặp gỡ với một nhân vật sống, nhân vật này vẫn là con người với thân xác, nhưng một thân xác không như bình thường nữa. Luca nhấn rất mạnh điểm này: Đức Giêsu không phải là „ma“ hay „hồn“, như các môn đệ đã nghĩ, khi vừa chợt thấy Người, nhưng là một người „có xương có thịt“ (Lc 24,36-43).
Đâu là khác biệt giữa cuộc hiện ra của Đấng phục sinh và của ma hay „hồn“? Điểm này ta có thể thấy rõ trong câu chuyện bà đồng bóng ở Enđo. Bà này bị Saoun ép phải gọi hồn Samuen và đưa hồn đó ra khỏi âm ti (xem Sm 28,7tt). „Hồn“ là một kẻ chết, kẻ chết này sống như một cái bóng trong cõi âm ti; hồn này thỉnh thoảng có thể được gọi lên, nhưng rồi nó sẽ phải quay trở lại âm ti.
Đức Giêsu, trái lại, không đến từ âm ti, cõi mà Người mãi mãi đã thoát khỏi. Nhưng Người đến từ thế giới sự sống thuần khiết, Người là một nhân vật sống thật sự xuất phát từ Thiên Chúa là chủ của sự sống. Luca nhấn mạnh sự khác biệt với „hồn“ này, bằng cách cho hay, để đánh tan sự ngờ vực của các môn đệ, Đấng phục sinh đã xin họ chút gì để ăn và Người đã ăn một khúc cá nướng trước mặt họ.

Đa phần các nhà diễn giải đều cho rằng, chỗ này Luca đã ngoa ngôn trong lối biện giải. Theo họ, Luca nói lên chi tiết đó với mục đích kéo đức Giêsu trở lại hình thù thân xác khả nghiệm, một hình thù đã không còn nữa sau khi Người phục sinh. Các nhà diễn giải cho rằng, Luca đã mâu thuẫn, khi viết rằng, đức Giêsu bỗng nhiên bằng xương bằng thịt hiện ra giữa các môn đệ, nhưng xương thịt này lại không bị chi phối bởi các quy luật không gian và thời gian!
Về điểm này, tôi nghĩ cần nên xem ba chỗ khác cũng nói về việc dùng bữa của Đấng phục sinh.
Đoạn văn của Luca trên đây là tiếp nối câu chuyện của hai môn đệ trên đường Êmaus. Đoạn này kết thúc với cảnh đức Giêsu ngồi vào bàn ăn với họ. Người cầm bánh, ca ngợi Thiên Chúa rồi bẻ ra trao cho hai người. Trong khoảnh khắc ấy, mắt hai môn đệ mở ra và „họ nhận ra Người. Còn Người thì biến đi trước mắt họ“ (Lc 24,31). Chúa ngồi vào bàn như trước đây vẫn làm với các môn đệ, dâng lời nguyện rồi bẻ bánh. Đoạn Người biến đi, và trong giây lát ấy, tâm của hai môn đệ mở ra: Họ nhận ra Người. Đó đúng là một bữa ăn chung, nhưng bữa ăn này mang tính cách mới. Đức Giêsu tự tỏ mình ra trong khi bẻ bánh, nhưng các môn đệ thì lại nhận ra Người, chỉ khi Người biến đi.
Từ cơ cấu nội tại, hai câu truyện về bữa ăn cũng chẳng khác gì câu truyện ta đọc được nơi Gioan 21,1-14: Các môn đệ đánh cả đêm mà chẳng được con cá nào. Sáng ra, đức Giêsu đã đứng ở bờ hồ, nhưng họ không nhận ra Người. Người hỏi họ: „Này các con, có gì ăn không?“. Họ trả lời không. Người liền bảo họ ra khơi bỏ lưới lần nữa xem, và lần này họ đánh được một mẻ lưới đầy cá. Sau đó chính Người mời họ tới ăn cá nướng „Hãy lại đây cùng ăn“. Và tức thì „họ biết“ đó là đức Giêsu.

Để hiểu việc dùng bữa của Đấng phục sinh, nhất thiết phải đọc trình thuật cuối cùng trong Công Vụ Tông Đồ. Trong các bản dịch thông thường, ta không thể nhận ra được điểm đặc biệt cần lưu tâm. Chẳng hạn như trong bản dịch Đức ngữ: „…suốt bốn mươi ngày Người hiện ra với họ và nói với họ về Nước Thiên Chúa. Trong bữa ăn, Người dặn họ đừng rời khỏi Giêrusalem…“ (Cv 1,3t). Dấu chấm – được quyền chấm câu ở đây về mặt cú pháp – sau chữ ‚Nước Thiên Chúa’ đã che mất sự liên hệ nội tại. Luca đề cập tới ba yếu tố nói lên sự gắn bó của Đấng phục sinh với các môn đồ: „Người tự tỏ mình cho (người khác) thấy“; „Người nói“; „Người dùng bữa“. Tự tỏ mình – nói – dùng bữa là ba biểu lộ đi chung với nhau, chúng cho thấy Đấng phục sinh là một người sống thật sự.
Để hiểu đúng yếu tố thứ ba – yếu tố này cũng kéo dài „bốn mươi ngày“ như hai yếu tố kia – ta phải quan tâm đến từ của Luca dùng: synalizómenos. Dịch sát nghĩa: „Đang ăn muối với họ“. Chắc chắn Luca đã cẩn thận dùng từ này. Và nó có nghĩa gì? Trong Cựu Ước, ăn bánh mì với muối hay ăn muối có nghĩa là lập nên những giao ước vững chắc (xem Ds 18,19; 2 Chr 13,5; xem Hauck, ThWNT I, tr. 229). Muối là bảo chứng cho sự lâu bền. Nó là chất làm cho thức ăn khỏi thiu, không rữa; rữa nát là bản chất của sự chết. Ăn là để đề kháng lại sự chết – đó là một cách kéo dài sự sống. Việc „đức Giêsu ăn muối“ sau khi phục sinh vừa là một chỉ dấu của cuộc sống mới và mãi mãi vừa nói lên bữa ăn mới của Đấng phục sinh với các môn đồ của Người. Đó là một sự kiện giao ước, và như vậy nó có liên hệ với bữa tiệc li, qua đó đức Giêsu đã lập Giao Ước Mới. Như vậy, ẩn số ăn muối nói lên sự nối kết nội tại giữa bữa ăn của đức Giêsu trước khi chịu khổ nạn và bữa ăn mới sau khi sống lại: Người tự trao mình làm của ăn cho các môn đệ và vì thế cho họ chung phần với sự sống của Người, cho họ chung phần với chính sự sống.
Cuối cùng, chúng ta cũng cần suy nghĩ về lời của đức Giêsu nói trong Tin Mừng Máccô: „Mỗi người sẽ được muối bằng lửa. Muối là vật tốt; nhưng nếu muối nhạt đi, thì lấy gì làm nó mặn lại được? Hãy có muối trong người và giữ hoà thuận với nhau“ (9,49t). Một vài chữ viết tay thêm vào đoạn nối vào sách Lêvi 2,13 như sau: „Mỗi của lễ phải được ướp bằng muối“. Ướp muối lễ vật là làm cho nó trở nên mặn mà và giữ cho nó khỏi ôi. Như vậy các nghĩa khác nhau sau đây cùng liên quan với nhau: Làm mới giao ước, của lễ sự sống, thanh tẩy chính mình để trở nên lễ vật cho Thiên Chúa.
Luca mở đầu Công Vụ Tông Đồ với việc tóm tắt các biến số hậu phục sinh và dùng từ „synalizómenos – ăn muối cùng với các người khác“ để nói về bữa ăn chung bàn của Đấng phục sinh với các môn đệ. Điều này một mặt không giúp ta hiểu gì thêm về bữa ăn mang tính cách mới đầy bí nhiệm đó, nhưng mặt khác nó cho thấy điểm căn bản: Chúa đưa các môn đệ cách mới vào trong cộng đoàn giao ước với Người và với Thiên Chúa hằng sống. Người cho họ dự phần vào sự sống đích thật, làm cho họ trở thành những con người sống động và ướp mặn đời họ bằng việc tham dự vào khổ nạn và vào sức mạnh thanh tẩy của khổ nạn của Người.
Chúng ta không thể hiểu được bữa tiệc chung bàn với các môn đệ của Người sẽ ra như thế nào. Nhưng chúng ta có thể nhận ra bản chất nội tại của bữa tiệc ấy và có thể thấy bữa ăn của Đấng phục sinh đó được tiếp diễn trong cộng đoàn thánh lễ, trong tiệc Thánh Thể, dù dưới một cách khác.

TÓM TẮT: BẢN CHẤT PHỤC SINH
CỦA ĐỨC GIÊSU
VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA NÓ

Chúng ta hãy tự hỏi một lần nữa cách ngắn gọn, đâu là đặc tính của cuộc gặp gỡ với Đấng phục sinh. Sau đây là những phân biệt quan trọng:

– Đức Giêsu không trở lại với đời sống sinh học thường tình, để rồi một ngày nào đó lại phải chết theo các định luật sinh học.
– Đức Giêsu không phải là ma („hồn“). Nghĩa là Người không thuộc vào thế giới kẻ chết, nhưng một cách nào đó Người vẫn có thể hiện diện trong thế giới người sống.
– Các cuộc gặp gỡ với Đấng phục sinh cũng không phải là những kinh nghiệm thần bí, qua đó tinh thần con người trong phút chốc vượt ra khỏi mình để cảm nhận được thế giới thần linh và vĩnh cửu, và sau đó lại trở về với tình trạng thường tình của con người. Kinh nghiệm thần bí là một sự phá rào không gian trong phút chốc của tâm hồn và của khả năng cảm nhận của tâm hồn. Nó không phải là một gặp gỡ với một người từ bên ngoài đến với mình. Phaolô đã có những kinh nghiệm thần bí, chẳng hạn như chuyện ngài cất mình lên tới tầng trời thứ ba, như được ghi lại trong thư thứ hai gởi Côrintô 12,1-4. Nhưng kinh nghiệm này hoàn toàn khác với cuộc gặp gỡ Đấng phục sinh trên đường đi Đamát; cuộc gặp này là một biến cố trong lịch sử, một gặp gỡ với một người sống.

Như vậy, với những tin tức kinh thánh cho, ta có thể thật sự nói gì về tính chất cá biệt của việc sống lại của đức Kitô?
Đó là một biến cố trong lịch sử, nhưng nó phá tung không gian của lịch sử và vượt lên trên không gian đó. Có lẽ ta dám dùng ở đây một lối nói tương đương, dù vẫn còn nhiều hạn chế, để giúp dễ hiểu: Ta có thể coi Phục sinh như một thứ „cú nhảy đột biến“ triệt để, qua đó một chiều kích sự sống mới, một chiều kích làm người mới xuất hiện.
Đúng, chính vật chất đã vỡ ra để đi vào một hình thái thực tại mới. Con người đức Giêsu cùng với thân xác Người giờ đây hoàn toàn thuộc vào thế giới thần linh và vĩnh cửu. Nói như sử gia Tertullian, „tinh thần và máu“ từ nay đã có được một chỗ nơi Thiên Chúa (xem De resurrect. mort. 51,3; CC lat. II 994). Và nếu như con người, tự bản chất, được tạo dựng để hướng tới bất tử, thì chỗ đó chính là “không gian”, là “thân xác” cho linh hồn bất tử; đó là chỗ bất tử có được ý nghĩa, bởi vì con người giờ đây được ở bên Thiên Chúa và ở cùng toàn thể nhân loại hoà giải bên nhau. Các lá thư của thánh Phaolô viết sau khi ra tù gởi cho tín hữu Côlôxê (xem 1,12-23) và tín hữu Êphêsô (xem 1,3-23) nói về một ‘thân thể vũ trụ’ của đức Kitô. Ở đây, ngài muốn nói rằng, thân thể biến hoá của đức Kitô đồng thời cũng là chỗ để con người bước vào cộng đoàn với Thiên Chúa, và nhờ đó, con người có được cuộc sống bất tử trọn đầy. Vì chính chúng ta chưa có kinh nghiệm về tính cách đột biến đó của vật chất và sự sống, nên điều trên đây vẫn là một lĩnh vực đang vượt ngoài khả năng suy tưởng của ta.
Song điều cơ bản: Đức Giêsu phục sinh không có nghĩa Người là một kẻ chết nào đó đã được hồi sinh trong một lúc nào đó. Phục sinh của Người có nghĩa là đã có một bước đột biến về mặt bản thể xẩy ra, đột biến này mở ra một chiều kích có liên quan tới tất cả chúng ta, nó tạo ra cho tất cả chúng ta một không gian sự sống mới, một không gian sống bên Thiên Chúa mới.

Như vậy, tính cách lịch sử của biến cố phục sinh cũng cần được đặt ra. Một mặt, ta phải nói rằng, Phục sinh là cái gì đó làm vỡ tung lịch sử và mở ra một chiều kích mới, mà chúng ta gọi là chiều kích cánh chung. Phục sinh mở ra không gian mới, không gian này giúp lịch sử vượt lên trên chính nó và tạo ra cái sau hết. Trong ý nghĩa này, Phục sinh không phải là một biến cố lịch sử như biến cố giáng sinh hay biến cố đóng đinh đức Giêsu. Nó là cái gì mới, một loại biến cố mới.
Nhưng đồng thời cũng cần phải xác định: Phục sinh không đơn giản là một điều gì đó nằm ở ngoài và bên trên lịch sử. Vì là cánh cửa mở ra từ lịch sử và vượt lên trên lịch sử, nên chính Phục sinh ngay từ đầu cũng nằm trong lịch sử và thuộc một phần vào lịch sử. Điểm này ta có thể diễn tả như sau: Phục sinh của đức Giêsu vượt lên trên lịch sử, nhưng nó để lại dấu chân trong lịch sử. Vì thế, nó có thể được xác nhận bởi các nhân chứng như là một biến cố với một phẩm chất hoàn toàn mới.
Quả thật, nếu không có sự đụng chạm của một cái gì hoàn toàn mới và bất ngờ từ bên ngoài – cái đó là những lần hiện ra và trò chuyện của đức Kitô phuc sinh -, thì các tông đồ đã không thể có được những lời giảng say mê và trầm tĩnh như đã có. Chỉ có một biến cố thực sự mới lạ và triệt để mới khiến cho các tông đồ giảng được như thế. Điều này không thể cắt nghĩa được bằng những tính toán đầu cơ hay kinh nghiệm thần bí. Nó xuất phát từ chấn động mạnh mẽ của một biến cố vốn không thể nghĩ ra bởi con người và phá vỡ mọi dự tưởng của con người.

Cuối cùng, một câu hỏi còn lại luôn được đặt ra cho tất cả chúng ta, câu hỏi mà Giuđa Tađêô đã hỏi đức Giêsu trong bữa ăn cuối: “Thưa Thầy, tại sao Thầy lại muốn tỏ mình ra cho chúng con, mà không cho thế giới?” (Ga 14,22). Đúng, tại sao Người lại không tỏ quyền lực của mình ra để trị những kẻ thù đóng đinh mình? Chúng ta cũng muốn hỏi Người như thế. Tại sao Ngài không chứng tỏ cho họ thấy quyền năng của Ngài trên sự sống và sự chết? Tại sao Ngài lại tỏ mình ra cho một nhóm môn đệ và giao cho chúng con tiếp tục làm chứng tá cho các tông đồ?
Câu hỏi rõ ràng không chỉ liên hệ tới Phục sinh, mà tới cả toàn bộ cách thức mạc khải của Thiên Chúa trong thế giới. Tại sao Người chỉ mạc khải cho Ápraham – mà không cho những kẻ quyền lực trong thế giới? Tại sao chỉ cho Israel, mà không cho mọi dân tộc trên địa cầu?
Đó là mầu nhiệm của Thiên Chúa: Người hành động nhỏ nhẹ; Người chỉ xây dựng lần hồi lịch sử của Người trong lịch sử lớn của nhân loại; Người nhập thể làm người, nên những kẻ đương thời, những quyền lực của lịch sử có thể không nhìn ra Người; Người đau khổ và chết và chỉ muốn qua lòng tin của những môn đệ được Người mạc khải loan truyền ra cho nhân loại biết cuộc phục sinh của Người; Người vẫn ngày đêm nhỏ nhẹ gõ cửa lòng ta và làm cho ta dần dần mở con mắt, nếu chúng ta chịu mở cửa ra cho Người.
Nhưng đó phải chăng là lối hành xử của Thiên Chúa? Không quật ngã bằng quyền lực bên ngoài, mà chỉ trao ban tự do, trao tặng và đánh thức tình yêu. Và nếu ta suy nghĩ kĩ, thì phải chăng điều xem ra bé nhỏ lại là điều thực sự to lớn? Phải chăng tia lửa thắp lên từ bao thế kỉ qua của đức Giêsu đã tắt? nó đã không chiếu tới được một người nào? và nó đúng là ánh sáng Thiên Chúa chiếu rọi vào trần gian hay không? Phải chăng những lởi giảng của các tông đồ đã có người nghe và đã có thể tạo được một cộng đoàn hoàn vũ, nếu trong đó không có động lực thúc đẩy của sự thật?
Nếu ta lắng nghe chứng tá của con tim thức tỉnh và chịu mở lòng ra cho những dấu chỉ luôn mới về sự hiện diện của Thiên Chúa, thì ta sẽ biết rằng: Người đã thật sự sống lại. Người là Đấng hằng sống. Chúng ta phó thác trong Người và biết rằng, mình đang đi trên con đường đúng. Cùng với Tôma, chúng ta xỏ bàn tay vào cạnh sườn đức Giêsu và thưa với Người: “Thầy là Chúa của con và Thiên Chúa của con!” (Ga 20,28).

Phục Sinh Là Gì?

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *