Ông vốn thích quyền uy và nguy nga tráng lệ

 

Thượng Phụ của Giáo Hội chính thống nga bước ra sân khấu: Kirill gặp giáo tông Phan-sinh. Nhân vật đến từ Moscow muốn gì?
Wolfgang Thielmann (Die Zeit, số 7 ngày 11.02.2016)

 

kirill 3

 

Kirill muốn cuộc phỏng vấn diễn ra ở tầng hầm. Đó là năm 1986. Vị Giám Mục chính thống giáo phận Smolensk và Königsberg, với dáng dấp mạnh mẽ trong bộ áo chùng đen nhưng không đội mũ ống như các giám mục chính thống vẫn thường đội, bước các bậc thang xuống căn hầm lờ mờ chiếu sáng của trung tâm Hội Đồng Các Giáo Hội Thế Giới ở Genève. Nét bối rối lộ ra nơi giọng nói trầm thấp của ông. Nhiều lần ông cứ đưa tay vuốt những lọn tóc hung nâu trước trán và chòm râu xoắn.

Cách đó vài năm Kirill là người chỉ trích việc Liên-xô đổ quân vào A-phú-hãn, một hành động quả cảm. Lúc đó ông mới 40 tuổi, dáng hơi thô và có tài hùng biện, thuộc vào hàng mầm non lãnh đạo trong Giáo Hội. Các giám mục già cứ loanh quanh nói về nét đẹp của Thiên Chúa ba ngôi và về nhu cầu thánh hoá con người, chẳng ai mở miệng nói gì về đường lối chính sách của Giáo Hội trong hiện tại. Kirill thì khác. Ông cho hay, người chính thống giáo chống lại việc phong chức cho nữ giới, tuy nhiên họ vẫn muốn làm việc chung với các tín hữu tin lành và anh giáo. Và ông phàn nàn là các vị trí lãnh đạo trong Hội Đồng Các Giáo Hội Thế Giới ở Genève thường do tín đồ tin lành và anh giáo nắm, hiếm khi được giao cho người chính thống giáo. Qua phát biểu đó, ông muốn tạo cho Chính Thống có một tiếng nói về mặt chính trị. Và sau khi đã có được sự tin tưởng, ông đã dám để cho các phóng viên báo chí phỏng vấn. Chưa có một vị lãnh đạo Giáo Hội chính thống nào dám làm việc này cả. Kirill được xem là một người có khả năng thoả hiệp.

Giờ đây ông đã 70 với tóc râu bạc và đã thành công. Từ 2009 ông trở thành thượng phụ đứng đầu Giáo Hội chính thống ở Nga, một tổ chức huy hoàng gần như là quốc giáo của nước này. Ông ngự trị như một đại lãnh chúa và tỏ ra rất tâm đầu hợp í với Putin. Và ông là người cung cấp nền tảng tinh thần cho chính sách phân hoá Âu châu của tổng thống nga. Tín hữu chính thống không cảm thấy dị ứng trong việc thần quyền và thế quyền hoà quyện trong nhau. Họ mô tả tương quan của họ đối với nhà nước bằng chữ „bản hoà tấu“, sự cộng hưởng lên nhau. Nhiều khi họ đi theo chủ nghĩa quốc gia quá khích.

Điều này thể hiện chẳng hạn qua sự xung đột với U-kra-in. Kirill đã dứt phép thông công Filaret là thượng phụ của thủ đô Kiew. Ông này đã cùng 3000 giáo sĩ với gần 4000 giáo xứ quay mặt khỏi Moskow và lập một Giáo Hội riêng. Nhưng dù không còn U-kra-in, Nga với 10.000 giáo sĩ trong 12.000 giáo xứ luôn vẫn là một sức mạnh chủ đạo. Ngoài ra, ở U-kra-in còn có thêm một Giáo Hội chính thống độc lập thứ ba với 1200 giáo xứ và 700 giáo sĩ. Đây là Giáo Hội duy nhất do U-kra-in thành lập được các Giáo Hội chính thống khác thừa nhận.

Phải chăng Kirill đã mất khả năng thoả hiệp? Mới cách đây vài tuần ông tuyên bố, chính „tây phương vô đạo“ với việc cho phép người đồng tính lập gia đình và chủ trương tự do phóng đãng đã góp phần vào việc hinh thành „Quốc Gia Hồi Giáo – IS“ và các nhóm quá khích khác. Ông khuyên Giáo Hội ông cần có lãnh đạo độc đoán và cần giữ văn hoá truyền thống, để làm đối trọng với chủ trương tiến bộ vô phương hướng của tây phương và để chống lại các chế độ dân chủ đa nguyên. Ông thông cảm với Putin và tán đồng chính sách bàn tay sắt của nhà lãnh đạo này.

Nhưng mặt khác Kirill cũng là người chống lại phái tôn thống quá khích trong Giáo Hội của ông. Họ chủ trương giật sập mọi nhịp cầu với tây phương, vì cho rằng, nếu không, Nga sẽ bị lây nhiễm các căn bệnh tây phương như chủ nghĩa cá nhân và vai trò trung lập của nhà nước đối với tôn giáo. Phát ngôn viên của Giáo Hội chính thống nga, tổng linh mục (Erzpriester) Wsewolod Tschaplin cũng là một người thuộc nhóm tôn thống quá khích đó. Ông này bị Kirill bãi chức vào dịp trước lễ Giáng Sinh. Là vì chính Kirill vẫn muốn tiếp tục đối thoại với phương tây, cho dù miệng ông cứ công kích và đôi khi lớn tiếng thoá mạ họ. Và giờ đây ông gặp được giáo tông Phan-sinh trên đất Cu-ba, đó là một thành công lớn nhất của ông về mặt đối ngoại.

Thành công này cũng sẽ giúp ông trong việc giành quyền lãnh đạo trong nội bộ thế giới chính thống giáo. Vì theo Giáo Hội nga tự cho biết, thì họ là là tổ chức đông nhất với 180 triệu tín hữu trongtổng số 300 tới 400 triệu tín hữu chính thống trên thế giới, gần tương đương với tổng số tín hữu của Tin Lành. Không thể có được con số chính xác, vì các Giáo Hội chính thông không thống kê tín hữu của mình. Kirill rất muốn trở thành vị lãnh đạo tối cao của thế giới chính thống.

 

Nhưng về thứ tự nghi lễ thì Kirill chỉ đứng hàng thứ năm trong số các thượng phụ bình quyền. Vị trí chủ tịch danh dự tối cao do thượng phụ của Konstantinopel (Istanbul) là Bartholomaios I nắm; Konstantinopel xưa kia là Giáo Hội mạnh nhất của thế giới chính thống. Bartholomaios là người bắc nhịp cầu đông tây, một người bạn của Giáo Tông và của các giám mục tin lành và là người triệt để chống việc phân rẽ. Ngài muốn nối kết mọi người. Và ngài tranh đấu cho môi sinh. Ngài có ít quyền về mặt chính trị. Vị lãnh đạo danh dự tối cao của thế giới chính thống ở trong một căn nhà đơn giản trong một quận thành phố Istanbul. Giáo Hội đại phương của ngài chỉ còn khoảng 2000 tín hữu. Nhưng tín hữu chính thống vốn là những người tôn thống. Đa số các Giáo Hội chính thống đều đứng về phía ngài và tuân trọng các quyết định của ngài. Kirill là người thích phô trương quyền hành, nên nhiều người không thích.

Và Giáo Hội nga thường là kẻ chậm chân trong các cuộc chia chác quyền lực. Chẳng hạn như ngay từ lúc đầu cách đây gần một ngàn năm. Đó là lúc thế giới ki-tô giáo đa nguyên đa màu đang tụ về hai kinh đô: Kinh đô la-tinh Roma – Giáo Hội của các luật sĩ và kinh đô hi-lạp Konstantinopel – Giáo Hội của các triết gia. Năm 1054 giáo tông Lê-ô IX muốn nắm quyền trên cả Konstantinopel, nhưng thượng phụ Konstantinopel là Michael I phản đối và không chấp nhận vị trí ưu tiên của Roma. Mâu thuẫn dẫn tới phân rẽ đông tây, một cuộc phân rẽ lớn nhất trong nhiều phân rẽ trong thế giới ki-tô giáo cho tới lúc đó. Phân rẽ này giúp cho thượng phụ Konstantinopel trở thành vị lãnh đạo tối cao của thế giới phương đông.

Lúc đó Giáo Hội nga mới chỉ là một cây non với 67 năm tuổi và chẳng có vị trí nào cả. Nhưng trong khi Konstantinopel càng ngày càng kiệt quệ với những xung khắc nội bộ và trước những đợt tấn công của quân hồi giáo, thì Giáo Hội nga dần bước lên sân khấu. Cuối cùng năm 1590 giám mục của Moskow được đề bạt lên hàng thượng phụ, nghĩa là vào hàng lãnh đạo tối cao của thế giới chính thống. Rồi từ thế kỉ 19 Chính Thống Giáo ở Nga càng ngày càng được Ki-tô hữu ở Đức quan tâm. Những mối liên lạc giữa nga hoàng và các lãnh chúa đức càng ngày càng thắt chặt. Các Giáo Hội chính thống được thành lập chẳng hạn ở các vùng Potsdam, Stuttgart và Baden-Baden. Hai cuộc thế chiến và cuộc cách mạng nga đã khiến cho các Giáo Hội chính thống tại đây phải rút vào sau bức màn sắt suốt nhiều thế hệ.

Sau khi khối đông âu tan rã, từ 1990 trở đi các Giáo Hội đông phương được dịp trỗi đậy. Trước cơn khủng hoảng giá trị của đất nước và văn hoá, các Giáo Hội đã trở thành tiếng lương tâm dẫn đạo cho các dân tộc mới trỗi dậy này. Trong cuộc chiến ở Nam-tư vào thập niên 90 của thế kỉ trước các linh mục chính thống đã làm phép súng đạn của lính serben và đã biện hộ cho những cuộc tàn sát man rợ, mà họ coi là cuộc thánh chiến của nước Serbien chống lại các kẻ thù của họ.

Nhờ sự di dân sau biến cố đông âu, khắp nơi tại Âu châu đã hình thành nên những Giáo Hội chính thống. Giáo Hội chính thống tại Đức có độ hơn một triệu tín hữu. Và cũng chỉ ở Đức mà thôi Giáo Hội này đã xuất hiện với tên gọi „Giáo Hội chính thống“ với một hội đồng giám mục chung. Nhưng tập thể này vẫn chưa có trọng lượng gì cả về mặt xã hội. Là vì các Giáo Hội bên ngoài các quốc gia mẹ này chỉ muốn đại diện cho người dân của họ, chứ không quan tâm vào việc góp tiếng nói trong lãnh vực chính trị.

Giáo Hội phương đông sống trong phụng vụ. Tín hữu chính thống trước sau vẫn cử hành phụng vụ của thánh Gio-an ở Antiochia trong thế kỉ thứ 4, một trong những nhà giảng thuyết lớn nhất của Ki-tô Giáo, và cũng vì thế mà ngài có biệt danh là „Chrysostomos“ (miệng vàng). Thánh Gio-an kết tạo phụng vụ thời đó thành „Phụng vụ thiên chúa“. Ba tiếng đồng hồ liên tiếp các tín hữu đứng chiêm ngắm cuộc tế lễ thánh của hàng giáo phẩm và các linh mục trước bức tường treo đầy ảnh tượng đã được làm phép. Theo niềm tin của người chính thống các vị tế lễ này đóng vai trò trụ cột, họ dẫn dắt các tín hữu vào thế giới của các thánh. Phụng vụ này như vậy cổ xưa hơn thánh lễ cũ của Giáo Hội công giáo truyền thống gần 1200 năm.

Ngoài ra còn có những khác biệt nào nữa? Cũng giống như nơi Giáo Hội công giáo, Giáo Hội phương đông dứt khoát chống việc phong chức linh mục cho phụ nữ. Nhưng các linh mục chính thống, cũng giống như nơi Tin Lành, được phép lập gia đình; còn các giám mục được chọn từ các dòng tu và phải sống độc thân. Ở Nga, các bà già còn giữ thói tục quỳ gối hôn nhẫn trên tay giám mục. Ai làm ngược lại truyền thống thì bị chế nhạo. Đức tin của tín hữu chính thống dựa trên cảm giác, họ cầu nguyện trước ảnh tượng. Hương và nến là những thứ quan trọng, còn giảng kinh chẳng quan trọng lắm. Thay vào đó các thánh được thờ kính hết lòng.

 

Nay Bartholomaios I, thủ lãnh danh dự của Chính Thống, cũng vừa đạt được một thành công vĩ đại: Ngài đã kêu gọi được tất cả các Giáo Hội chính thống về họp chung (công đồng) vào dịp lễ Chúa Thánh Thần năm nay, sau 787 năm ai đi đường nấy. Nhiều câu hỏi sẽ được đưa ra bàn: Họ muốn làm việc chung với các Giáo Hội ngoài Chính Thống Giáo như thế nào trong tương lai? Những Giáo Hội nào mới thành lập ở U-kra-in và các nơi khác sẽ được công nhận? Bartholomaios đã có thể mời tất cả về dự công đồng tại Moskow, nhưng các lãnh đạo đã đồng í về họp tại đảo Kreta của Hi-lạp. Trong tháng giêng vừa rồi, các lãnh đạo giáo hội đã thoả thuận với nhau, là trong cuộc họp sẽ chỉ thảo luận những vấn đề nào đã đồng ý với nhau trước đó mà thôi. Thượng phụ Kirill, người vốn thích tranh luận, hẳn phải tuân giữ điểm này. Nhưng ông vốn có tham vọng lãnh đạo. Cuộc gặp Giáo Tông trên đất Cu-ba vừa rồi đã giúp ông thêm mạnh thế. Với tư cách là người đối thoại với vị lãnh đạo tối cao của Giáo Hội phương tây, vị giám mục „hầm trú“ năm 1986 giờ đây sẽ xuất hiện như là lãnh tụ của một Giáo Hội toàn cầu.

 

Phạm Hồng-Lam chuyển dịch

 

Ông vốn thích quyền uy và nguy nga tráng lệ

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *