Lộ trình CỨU nước và DỰNG nước
trong „Chính Đề Việt Nam“

 

Phát triển dân tộc

 

Ở đây cần nêu lên một câu hỏi. Tại sao vấn đề sống chết của đất nước chúng ta, theo Tùng Phong, không phải là „Độc Lập“, mà lại là chuyện „Phát Triển“? Lẽ ra, sau hàng ngàn năm nô thuộc ngoại bang, và hiện nửa nước đang nô lệ Cộng sản quốc tế (sách viết đầu thập niên 1960), Độc Lập phải là nỗi khao khát nóng bỏng và thiêng liêng của người Việt. Nhưng tác giả đã đặt Phát Triển lên ưu tiên, với lí luận như sau: Độc Lập không phải là cứu cánh, mà nó chỉ là phương tiện cho công cuộc phát triển đất nước. Cùng đích của việc đánh đuổi ngoại xâm và hiện nay là đánh đuổi nội xâm cộng sản chẳng phải là Độc Lập, mà là để Dân Tộc nhờ đó có được cơ hội tự do phát triển đất nước.

Cứ nhìn vào nền Độc Lập mà Đảng Lao Động trước đây ở miền Bắc và Đảng Cộng Sản hiện nay trên cả nước đang rêu rao, thì hiểu được ngay lập luận của Tùng Phong. Độc Lập mà không Phát Triển, thì Độc Lập chỉ là bánh vẽ, giả hiệu. Ai dám bảo, Việt Nam hiện nay dưới sự cai trị của việt cộng là một quốc gia thực sự độc lập?

Vậy, để về lâu về dài thoát ra hoặc hoá giải được áp lực khủng khiếp từ phương bắc, hầu giữ được độc lập và chủ quyền, theo Tùng Phong, chúng ta chỉ có một con đường duy nhất: Phát Triển dân tộc. Nghĩa là phải làm sao để dân giàu nước mạnh, có như vậy ta mới giữ được nền độc lập đúng nghĩa.

Nhưng Phát Triển bằng cách nào hay theo mô thức nào?

Trong một trăm năm qua, thế giới có hai mô hình phát triển: Cộng Sản và Tự Do Dân Chủ.

Thật ra, con đường Cộng Sản hay Tự Do chung quy cũng là con đường Tây Phương Hoá. Trước đây Tùng Phong gọi „Tây Phương Hoá“, ngày nay mang tên là „Toàn Cầu Hoá“. Đó là nỗ lực bước theo văn minh âu mĩ để có tiến bộ, thịnh vượng và hùng mạnh. Chỉ khác một điều: Cộng Sản tây phương hoá bằng bạo lực trấn áp, bằng nhân danh quyền lợi của tập thể (mà thực chất là của nhóm lãnh đạo đảng của họ) để triệt tiêu quyền lợi cá nhân; Tự Do tây phương hoá bằng đường lối kêu gọi thuyết phục và bằng cố gắng cân bằng quyền lợi cá nhân và tập thể. Và như ta thấy, con đường phát triển theo mô thức Cộng Sản đã hoàn toàn thất bại.

Dù có í thức hay không, thì chúng ta trước sau vẫn đang ở trong tình trạng tây phương hoá. Từ cách ăn mặc, nhà ở, xe cộ, các phương tiện truyền thông, ngay cả cảm thức nghệ thuật… tất cả đều là của „tây“ hết rồi. Không biết từ lúc nào, „ăn cơm tàu, lấy vợ nhật, ở nhà tây“ vẫn là giấc mơ để đời của người mình.

Tây Phương Hoá, như vậy, là điều đương nhiên, không thể tránh khỏi. Ngăn chặn cũng không được. Mà chần chừ thì bị nó cuốn phăng. Vậy chỉ còn việc phải chọn thái độ nào trước cơn lũ tây phương hoá mà thôi.

Trước đây, vì chống lại cơn lũ đó, dân Da Đỏ ở Mĩ châu đã bị tiêu diệt, Ấn-độ và các nước phi châu bị rơi vào ách thuộc địa, Trung-hoa và Thái-lan rơi vào tình trạng bán thuộc địa, còn Nhật thì đã giữ được độc lập vì biết chủ động thích ứng với cơn lũ đó.

Còn Việt Nam? Vì đã không có một chính sách nào, chỉ biết thụ động trước số phận, chúng ta rơi vào lệ thuộc hàng trăm năm dài; đất nước mất chủ quyền, xã hội tan rã trước văn minh kĩ thuật từ ngoài ồ ạt tràn vào theo chân kẻ chiến thắng. Những giá trị cổ truyền bị phá sản và khinh miệt. Một cuộc duy tân diễn ra hỗn độn, không mục đích, không đường hướng. Tùng Phong nhận định:

„Xã hội chia làm hai khối: Một bên cố gắng ôm lấy các giá trị cổ truyền đã chết thành thây ma, một bên duy tân nhưng không biết duy tân để làm gì và đi theo hướng nào, chỉ bắt chước cử chỉ như khỉ và lời nói như sáo. Hai bên tân, cựu khinh miệt nhau, hiện tượng rõ rệt của một xã hội đang tan rã. Tình trạng càng trở nên bi thảm, khi chính phái “mới“, với sự ủng hộ của kẻ xâm lăng đã thắng phái “cũ”. Các giá trị cũ, tuy đã chết như cây khô vì không người vun tưới, nhưng đó là những tiêu chuản giá trị thật, có thời đã đào tạo được những thế hệ người gồm nhiều đức tính cao cả. Với sự sụp đổ của những giá trị đó, tiết tháo và tính khí của người xưa cũng mất luôn. Lớp người mới lại không biết duy tân để làm gì ngoài sự hưởng thụ vật chất” (tr.)

Như vậy, chỉ còn cách là chúng ta phải „chủ động“ một cuộc TPH có í thức, có mục đích, có đường lối. Với í thức và chủ động, chúng ta có thể điều hướng và điều hoà được giòng lũ.

Và công cuộc TPH có í thức này phải „toàn diện“, nghĩa là nó diễn ra trên mọi lãnh vực: kĩ thuật, kinh tế, chính trị, pháp luật, văn học… Không thể nói, chúng ta chỉ đổi mới quân đội hay cải tiến kinh tế là đủ; hay chỉ cần nhập cảng máy móc, vũ khí của tây phương để phát triển và bảo vệ đất nước là đủ. Không. Đã có máy móc, phải tổ chức đội ngũ công nhân; có công nhân, phải tổ chức công đoàn, phải có luật pháp bảo vệ lao động, phải có những biện pháp cải tiến i tế dân sinh, phải huấn luyện văn hoá tay nghề cho họ v.v. Như một dây chuyền, các lãnh vực nối kết liên thuộc với nhau. Cũng như khi quyết định xả lũ, chúng ta hiểu rằng, nước lũ trước sau sẽ tràn khắp mặt đất, chứ không chỉ hạn chế trong một vài vùng nào đó mà thôi.

Và công cuộc TPH chủ động này phải đạt tới một „mức độ đủ cao“, nói cách khác, phải triệt để. Tác giả muốn nói gì ở đây?

Văn minh tây phương đã chinh phục thế giới bằng khoa học kĩ thuật; muốn tồn tại, đương nhiên phải chế ngự được thứ khí giới đã đem lại chiến thắng cho họ. Họ có nền sản xuất cao ư, vậy ta mua máy móc của họ; họ có khí giới tối tân ư, ta mua khí giới của họ; xe hơi họ tốt, ta nhập xe của họ… Nhưng chỉ có mua kĩ thuật của Tây Phương, thì chúng ta mãi mãi cũng chỉ là chạy theo và mãi mãi lệ thuộc Phương Tây. Hết lệ thuộc Phương Bắc, giờ lại chuyển sang lệ thuộc Phương Tây.

Khi nói „TPH đến mức độ đủ cao“, tác giả muốn nói việc TPH bắt buộc phải trải qua hai giai đoạn: „Trong giai đoạn thứ nhất, các nỗ lực đều hướng vào sự hấp thụ các kĩ thuật tây phương (gđ. mua sắm máy móc, vũ khí, xe cộ…). Giai đoạn thứ hai bắt đầu, khi nào cộng đồng đã chế ngự được các kĩ thuật đã hấp thụ và dùng nó làm dụng cụ sáng tạo“.

Nói cách khác, giai đoạn thứ nhất là giai đoạn  LÀM THEO Tây Phương; giai đoạn thứ hai là giai đoạn sáng tạo – LÀM NHƯ – họ. Đây là giai đoạn chúng ta đã học được, đã nắm được Khoa Học của họ và rồi dùng nó sáng tạo ra cái riêng của mình. Nắm được Khoa Học của họ, ta sẽ có khả năng sáng chế kĩ thuật như họ.

Mà sở dĩ Phương Tây có được nền Khoa Học kì diệu như ngày nay, là vì họ có được hai đức tính: đó là đầu óc chính xác và óc tổ chức minh bạch ngăn nắp – nói cách khác là có đầu óc khoa học. Hai đức tính này là bà mẹ đẻ ra Khoa Học, chứ không phải ngược lại. Đây là hai đức tính thuộc gia sản truyền thừa của văn minh hi-lạp và rô-ma. Qua nhiều trăm năm, chúng đã hun đúc cho các dân tộc phương tây có được một lối suy nghĩ chính xác và một khả năng tổ chức đâu vào đấy như ta thấy ngày nay. Nhờ đó, họ mới phát triển lên được nền Khoa Học tân tiến ngày nay. Tinh thần chính xác, minh bạch và ngăn nắp này thể hiện ra không chỉ trong tư duy và tổ chức, mà cả trong nếp sống thường ngày, trong tính khí, qua câu văn, qua cách viết, qua từ ngữ xử dụng của họ.

Muốn rèn luyện hai đức tính này, Tùng Phong có một vài đề nghị cụ thể:

„Chúng ta phải chỉnh đốn đời sống hàng ngày cho ngăn nắp và minh bạch, và ngôn ngữ của chúng ta cũng phải được chỉnh đốn cho ngăn nắp và minh bạch…; đời sống hàng ngày của chúng ta và ngôn ngữ hàng ngày của chúng ta sẽ trở thành những dụng cụ sắc bén để giúp cho chúng ta rèn luyện chính xác về lí trí và ngăn nắp lẫn minh bạch trong tổ chức. Và ngôn ngữ đã chỉnh đốn lại trở thành một khí cụ suy luận để chúng ta soi thấu vũ trụ vật chất và vũ trụ tinh thần“ (tr. 329)

Rất nhiều sáng kiến và sáng chế kĩ thuật đã xuất hiện ở Phương Đông từ rất xa trước Phương Tây. Nhưng những phát kiến này đã không phát triển tiếp được, vì các dân tộc phương đông không có được „óc khoa học“. Mà „óc khoa học“ cũng có nghĩa là biết thắc mắc, muốn tìm cho ra lẽ, để đưa cái lẽ đó áp dụng vào thực tế hầu phục vụ cho cuộc sống mình.

Vài thí dụ.

  • Thuốc nổ là thứ người Trung-hoa đã tìm ra từ nhiều trăm năm trước, nhưng vì không có óc khoa học, họ đã không biến được chúng thành vũ khí, như người phương tây đã làm.
  • Bao nhiêu năm nay người việt nam chỉ biết cuốn chả dò thủ công; chỉ khi nó theo chân người tị nạn ra hải ngoại, nó mới được người tây phương phân tích và cơ giới hoá việc sản xuất, nhờ đó mới có được những vua chả dò, triệu phú chả dò như ông Trịnh Vỉnh Bình ở Hoà-lan.
  • Những ai trước đây học chương trình Pháp hầu hết đều là những người viết văn gẫy gọn, biết chấm câu rõ ràng; còn học sinh trường Việt đa số gặp khó khăn khi viết văn, chấm câu. Các học sinh, sinh viên ở Việt Nam hiện nay cũng vậy. Tại sao? Vì thầy cô thiếu trách nhiệm trong việc dạy? Vì người ta coi thường Việt ngữ? Hay vì tiếng Việt vốn thiếu lo-gic? Ai đã từng dịch các văn bản tiếng Việt, đều kinh nghiệm được sự thiếu chính xác của từ ngữ và thiếu mạch lạc của câu văn việt ngữ.
  • Một trong những nét ưu việt nhất nói lên tinh thần khoa học của người tây phương là lối học ở đại học. Không có cảnh thầy đọc – trò chép như ở Việt Nam. Cái học đại học ở đây không chủ yếu cung cấp lời giải (để học thuộc!), mà là nhắm cung ứng cho học viên thật nhiều chìa khoá, để họ có thể tự lựa chọn hay tổng hợp thành một giải pháp mới thích hợp cho việc giải quyết vấn đề của mình. Cũng như ta có thể đi từ A đến B bằng nhiều cách. Và người ta chỉ cho ta một lô phương tiện: đi bộ, xe đạp, phi ngựa, xe gắn máy, xe hơi, hàng không, đường thuỷ…; đồng thời giúp ta nhận ra được những khả thể về mặt lưu thông và những thuận lợi, trắc trở có thể gặp trên đường. Việc của ta là phải cân nhắc, chọn lựa hay tự tính toán kết hợp tạo cho mình một phương án mới, để đạt mục tiêu cách tối ưu nhất. Nghĩa là cái học này bắt mình động não, giúp mình phải sáng tạo.

Nghĩa là nó đòi hỏi học viên phải tập biết SUY NGHĨ CHÍNH XÁC và biết TỔ CHỨC MINH BẠCH NGĂN NẮP.

Và điểm đó – theo cái nhìn của Tùng Phong – cũng chính là hai cái chìa khoá quyết định, mà người Việt chúng ta phải làm sao thủ đắc cho được, thì mới có thể sáng tạo được như người phương tây.

 

Tắt lại, vấn đề căn bản mà Dân Tộc và Đất Nước chúng ta phải giải quyết, hầu tranh được hoạ xâm lăng và áp lực từ phương bắc, đó là:

  1. Phát triển và đào tạo Lãnh Đạo, vì đây là phương pháp hữu hiệu nhất và điều kiện thiết yếu nhất để giúp một quốc gia mà nền độc lập đang bị đe doạ tranh được hoạ ngoại xâm.
  2. Phát triển Đất Nước bằng cách chủ động tây phương hoá một cách có í thức, triệt để và toàn diện.
  3. Để có thể phát triển được bằng người và hơn người, chúng ta phải thủ đắc nền Khoa Học của họ. Muốn vậy, trên hết phải học và tập hai đức tính nền tảng của họ: suy nghĩ chính xác và sự tổ chức minh bạch và ngăn nắp, vì đây là bà mẹ sinh ra khoa học tây phương.

 

Augsburg, ngày 11.08.2015

Lộ trình CỨU nước và DỰNG nước trong „Chính Đề Việt Nam“ (2)

2 thoughts on “Lộ trình CỨU nước và DỰNG nước trong „Chính Đề Việt Nam“ (2)

  • 20. February 2016 at 17:03
    Permalink

    Bai hoc that qui gia
    Cam on anh PHL

    Reply
  • 20. October 2016 at 4:06
    Permalink

    Phần trình bày ngắn gọn và rõ ràng,tiết kiệm được thời gian rất nhiều.Tôi đã đọc cả cuốn sách và cố gắng cô đọng những phần chính nhủng tôi không thấy thỏa mãn bằng cách đọc lai những phần trình bày của anh PH Lam.Chúng ta nên khuyến khích đoàn viên PT nên đọc để làm hành trang cho việc đào tạo lãnh đao chính danh,hầu phát triển xây dựng đất nước thời hâu Cọng sản…………/-

    Reply

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *