Khi cụ Ngô Đình Diệm lên thay thế cụ Thượng Bài dưới triều Bảo Đại, cụ Diệm chỉ chấp nhận chức vụ đó với điều kiện là Pháp thay đổi chính sách đô hộ. Để cho việc Bảo Đại về chấp chính được xuôi thuận và Pháp khỏi mang tiếng với quốc tế, Pháp đã hứa. Nhưng khi công việc đâu vào đấy rồi, chính sách Pháp lại vẫn sau như trước. Và cụ Diệm đã trả ấn từ quan để cho Pháp biết rằng chế độ đô hộ phải chấm dứt, không chóng thì chầy. “Hại dân không Diệm”, Diệm 艶 còn có nghĩa là hại dân mà không xuôi.

Trước khi về nhậm chức ở triều đình, cụ Diệm đã làm tuần phủ hai tỉnh Phan Rang và Bình Thuận, một quan tuần phủ trẻ tuổi nhất, vì khi đến trấn nhậm vùng đó, cụ mới có 28 tuổi. Khi Hội Đồng Cách Mạng của Dương Văn Minh tháng 11, 1963, giết Cụ rồi, họ chỉ công nhận cụ Diệm là Tuần Phủ, không kể gì đến chức Tổng Thống đã đành, mà cũng bỏ qua cả chức Thượng Thư Bộ Lại của Cụ. Chỉ một sự kiện đó đã đủ để đánh giá cả Hội Đồng Cách Mạng nói chung và Dương Văn Minh, kẻ đã ra lệnh giết Cụ, nói riêng.

Thời cụ Diệm trấn nhậm vùng Phan Rang, là một thời bất an, vì bấy giờ Cộng sản bắt đầu bạo hành trên toàn cõi Đông Dương. Nhưng càng gặp khó khăn, cụ Diệm càng tỏ ra tài cán. Thay vì đục nước béo cò, nước càng đục phèn càng quý. Đang khi phòng Nhì Pháp bắt bớ dân chúng vì tình nghi Cộng sản, Cụ lại càng ra tay bênh vực dân lành. Một tác giả Mỹ không mấy tử tế với họ Ngô đã phải nói tóm tắt về Cụ trong thời đó như sau: “Đối với Pháp, Ông là một công chức gương mẫu, đối với người Việt, Ông là nhà cầm quyền trẻ tuổi mà tài cán, hết mực cần cù, làm tròn phận sự mà bàn tay không bị vấy bẩn”.

Một nhân vật như thế, chắc chắn Hồ Chí Minh phải biết và phải kính nể, vì thân phụ của ông cũng từng làm quan trong thời Pháp thuộc và ít ra ông cũng đã biết rằng làm được một ông quan thanh liêm và thương yêu dân không phải dễ. Nguyễn Sinh Sắc, cha của Nguyễn Sinh Cung (tức Hồ Chí Minh) đã từng làm tri huyện Bình Khê tức Bình Định. Quan huyện đâu có quyền tra tấn ai. Vậy mà cụ huyện Sắc đã tra tấn người ta đến chết, nên bị cách chức. Việc này dân Bình Định còn nhớ rõ, và thường kể lại mỗi khi có dịp nhắc chuyện cũ.

Thoát tay Hồ Chí Minh rồi, cụ Diệm không ngồi yên để nhìn thời thế và chịu đựng cảnh loạn ly. Cụ đã tuyên bố với Hồ Chí Minh rằng Cụ có chính sách Cứu nước riêng của Cụ, nay Cụ tìm cách đem nó ra thực hiện. Bằng cách nào? Không theo Cộng sản tức là chế độ tước đoạt mọi quyền lợi của người dân, cả về mặt vật chất, cả về mặt tinh thần, cụ Diệm, cụ Diệm đặt căn bản hoạt động chính trị của Cụ trên tự do, nhân bản mà Cụ gọi là thuyết Nhân Vị. Để thực hiện một thuyết quán xuyến như thế trong giai đoạn đất nước đang bị thực dân và Cộng sản xâu xé, tất Cụ phải liên minh với thế giới tự do, đồng chí hướng. Vì thế Cụ sang Nhật, rồi từ Nhật, sang Mỹ, rồi từ Mỹ về Âu châu, để kêu gọi sự ủng hộ của người nước ngoài, và để liên kết đồng bào tai mắt đang lưu vong hải ngoại.

Và cuối cùng, thời cơ của nhà Chí sĩ đã đến. Nói rằng thời cơ của nhà Chí sĩ, vì đây không phải là thời cơ của những chính khách xôi thịt. Nếu là cơ hội xôi thịt, thế tất không bao giờ đến phần Cụ, và vạn nhất có đến nữa, Cụ cũng chẳng thèm nào, như quá khứ đã chứng minh. Nhưng chính là cơ hội hy sinh vì quốc gia dân tộc, cơ hội kề vai gánh vác một trách nhiệm mà tất cả những kẻ từ trước đến nay ngồi chờ, đều thoái thác. Mọi người đều nghĩ rằng: làm Thủ Tướng Việt Nam vào tháng 7, 1954 là tự sát về phương diện chính trị, chỉ trừ cụ Diệm.

Bấy giờ là lúc vận mệnh Việt Nam lung lay không bao giờ bằng. Điện Biên phủ như tiếng sét long trở lở đất, vừa dao động Thế giới Tự do. Thế Hồ Chí Minh lên như sóng cồn, chỉ đợi thời gian để nắm cả Nam Bắc. Phía Bảo Đại thì như một lũ bù nhìn chỉ biết làm tay sai cho Pháp và phá hại dân. Nước càng tan nát, miếng ăn của họ càng béo bở. Nhưng chúng chỉ quen nấp bóng mà ăn, chứ không dám đương đầu. Nhưng đương đầu làm sao đây? Cộng sản như tên khổng lồ đằng đằng sát khí đang hòng vồ tới. Bảo Đại ở Cannes chơi bời thả cửa, nhưng lại đang nắm trọn quyền hành. Hỏi cụ Diệm chấp chánh dựa thế vào đâu?

Nhiều kẻ nhanh miệng trả lời rằng dựa thế Mỹ. Trả lời như vậy rất dễ, nhưng không phải là đúng. Nếu cụ Diệm chỉ biết dựa vào Mỹ, thì cách đó chỉ mấy tháng, vào cuối tháng 4 năm 1955, Cụ đã hết hẳn thế dựa, như vốn có giấy trắng mực đen làm chứng, và rồi, vào đầu tháng 11, 1963, Cụ đã lên phi cơ Mỹ đến những chỗ an toàn nhất cho đời của Cụ, chứ đâu phải bị Dương Văn Minh giết. Nhưng vì điểm tựa của Cụ là khí thiêng linh tú của non sông, là vận mệnh bất khuất của dân tộc, nói cách khác, là Thiên Chúa, nên khi nghe tiếng gọi làm nhiệm vụ, Cụ đã không từ nan. Cụ dấn thân bất chấp khó khăn, hay chính vì khó khăn.

Thật vậy, sau Điện Biên phủ, khi việc chia cắt đất nước đã hiện hình, và không ai dám đứng ra lãnh đạo Việt Nam Tự Do, Bảo Đại và Pháp buộc lòng phải mời cụ Diệm ra làm Thủ Tướng, ý đồ dùng Cụ như một con cờ thí. Mỹ cũng vậy, vì họ không còn có thể nghĩ đến ai khác. Từ Paris, Bill Gibson của tòa Đại sứ Mỹ đã đi Cannes gặp Bảo Đại về việc đó và chính quyền Mỹ cũng can thiệp với Pháp về việc đó. Khi Cụ đáp chân xuống Sài gòn, ngày 24 tháng 6 năm 1954, thật là một cảnh đáng thương hại. Những kẻ biết thời thế đều nói với nhau, giống như lời tiên đoán của Bảo Đại: “ Chỉ được 3 hay 6 tháng là cùng”. Vì cụ Diệm về làm Thủ Tướng mà trơ trọi hai bàn tay không: Quân đội nằm dưới quyền của tướng Nguyễn Văn Hinh, nghĩa là dưới quyền Pháp, và cảnh sát dưới quyền Lê Văn Viễn, hay Bảy Viễn, nghĩa là dưới quyền Bảo Đại, vì Bảy Viễn đã mua Bảo Đại chức Tổng Giám Đốc Cảnh Sát với giá một triệu đô la. Còn dân chúng ở thôn quê thì sao? Thì ở dưới quyền các giáo phái. Vậy mà những vấn đề phải giải quyết cấp tốc lại vô số, và toàn là những vấn đề khổng lồ…

Cụ Diệm chấp chánh ngày mồng 7 tháng 7, thì ngày 20 tháng đó Việt Nam bị chia cắt, lấy vĩ tuyến 17, tức là con sông Bến Hải làm giới hạn giữa Nam Bắc. Theo hiệp định Genève, sự chia cắt này chỉ là một giải pháp tạm thời, đợi đến tháng 7 năm 1956 sẽ có tổng tuyển cử để thống nhất đất nước và định đoạt số phận chính trị của Việt Nam. Không nói đến viễn ảnh cộng sản sẽ thắng trong hai năm nữa, việc cấp bách hơn cả, đó là định cư gần một triệu dân Bắc tỵ nạn Cộng sản. Việc này Cụ đã làm được một cách hết sức thành công, nhờ tiền trợ cấp của người Mỹ. Khu Hố Nai là bằng chứng lâu dài về sự thành công đó.

Nhưng nắm chính quyền, cần phải có quyền. Không ai giao cho đi nữa, thì cũng phải tự tạo lấy mới mong làm được việc gì. Vì nghĩ như thế, cụ Diệm bắt đầu tìm cách nắm lại quân đội. Khi Cụ bắt đầu lấy quyền Thủ Tướng bắt tướng Nguyễn Văn Hinh giao trả quân đội, mọi người đều đoán là Cụ sẽ thất bại lớn. Chín người trong số 15 bộ trưởng của Cụ, theo kiểu sợ thuyền chìm nên chuột bỏ chạy, đã đồng loạt từ chức để mong Bảo Đại chiếu cố trong nội các sau. Ngờ đâu, thuyền không chìm, vì Cụ đã khôn kéo dùng các ghế Bộ Trưởng bỏ trống đó để mua chuọc các giáo phái. Đang khi tướng Hinh và Bảy Viễn rộn ràng lo việc đón Bảo Đại về lập nội các mới, bỗng nhiên các giáo phái tuyên bố đứng về phía Cụ. Thế là Bảo Đại hết về. Nội các mới của Hinh-Viễn chết nghẹt khi chưa thành hình và tướng Hinh phải bỏ Sài Gòn sang Pháp.

Hết bước này đến bước khác vì con đường còn dài. Sào huyệt của Bảy Viễn ở Đại thế giới phải không còn nữa, mới có thể yên tâm nghĩ đến xây dựng nào. Nhưng chạm đến Bảy Viễn là chạm đến chỗ nhạy cảm nhất của Bảo Đại, vì tất cả sự xa hoa của vị phế đế là nhờ vào đó. Hơn nữa, chạm đến Bảo Đại lại cũng là chạm đến Pháp, vì sợi dây mong manh còn lại để nối Pháp với Việt Nam là Bảo Đại. Cho nên cuối tháng 1, 1955, khi Cụ tuyên bố không còn cho Bảy Viễn giấy phép khai thác Đại thế giới, vì giấy phép trước, lúc đó hết hạn, thì thế giới của Pháp và Bảo Đại nhảy lồng lộn lên. Tại Sài gòn, những chính khách tay sai của Pháp hốt hoảng đứng ra bênh Bảy Viễn. Những Nguyễn Tôn Hoàn, những Phan Quang Đán cùng với phe Bảy Viễn ký tối hậu thư đòi cụ Diệm phải lập chính phủ mạnh. Cụ Diệm nghĩ rằng chính phủ Cụ đã mạnh đủ, nên không nao núng. Ngày mồng 8 tháng 3, năm 1955, Quân Đội Quốc Gia phá tan nhóm Đại Việt Nguyễn Tôn Hòan ở Ba Lòng, và hai chục ngày sau đó, Đại Tá Phạm Văn Trí đột kích và chiếm đóng một cách dễ dàng đại bản doanh của Đoàn Công an Xung phong ở trường Petrus Ký, Chợ Lớn. Thấy thất thế cho phe ta, Pháp nhảy vào với Đoàn quân Viễn chinh của họ, bất chấp mọi luật lệ, lấy lý rằng họ phải bênh vực người Âu châu. Và cụ Diệm cũng không quên cho họ biết rằng Cụ cũng phải bênh vực quyền lợi của dân Cụ. Oái oăm là bấy giờ người đại diện Mỹ ở Sài Gòn, tướng Collins đứng về phía Pháp để cấm cụ Diệm hành quân. Cháy nhà mới ra mặt chuột.

Collins sang VN, vì đại diện cho Mỹ, nên tự coi mình như ông Trời, nghĩ rằng mọi việc cụ Diệm phải thưa trình với ông. Khi Cụ đặt Hồ Thông Minh làm Bộ Trưởng Quốc Phòng, Collins phản đối, nhưng Cụ cứ việc Cụ làm. Nay đến lúc ông trả thù. Được tư lệnh Pháp là tướng Paul Ély vô cùng o bế, vị tướng Mỹ ngăn trở cuộc hành quân của Quân đội VN, đồng thời trình về Hoa Thịnh Đốn là cụ Diệm bất lực cứng đầu. Trong văn thư gửi về Mỹ, Collins quyết liệt yêu cầu Tổng thống Eisenhower bỏ cụ Diệm và đem Phan Huy Quát lên thế. Chưa đủ, ông tức tốc bay về Mỹ vận động cho công việc chóng thành công. Chính sách “không cho làm rồi đổ tội rằng không chịu làm” của Collins thật là hữu hiệu. Tổng Thống Mỹ nghe theo ông. Và đây một nhân viên cao cấp trong bộ Ngọai giao kể lại giai đọan ly kỳ đó. Bấy giờ là đến gần cuối tháng 4, 1955, Young, nhân viên bộ Ngoại giao nói:

Sáu giờ tối 28, tôi cầm điện văn đến văn phòng Ngoại trưởng Dulles. Ngoại trưởng ký vào. Sau nhiều cuộc bàn cãi lâu dài và sau những vấn đề đau óc do đó mà ra, lần nữa, chúng tôi lại có hy vọng đạt được một giải pháp – chúng tôi có thể nói được rằng, đã đạt được cả một Đại Hiến chương. Chúng tôi trù liệu cho diễn văn (thay thế cụ Diệm) đến trước khi Collins đáp xuống Sài gòn để cần phải sắp đặt gì thì sắp đặt sẵn, cho guồng máy chạy theo nhịp độ của chính sách mới. Thế rồi, không lâu sau khi Dulles ký vào điện văn, tôi lại nhận được điện thoại của ông ta. Ông ta vừa nhận được điện văn của Lansdale. Chiến tranh lại tái phát giữa Bình Xuyên và Chính Phủ.”

            Khi được tin điện văn đã ký, Pháp và Bảo Đại cùng tầng lớp các chính khách xôi thịt nhảy mừng. Họ cuống quít chuẩn bị lên thay thế cụ Diệm. Có ngờ đâu chiến tranh kết liễu chỉ sau vài giờ, ít ra ở giữa thành phố, và quân đội của Chính phủ đại thắng. Mỹ vội vã hủy diễn văn thay thế cụ Diệm và Collins đến Sài gòn, gượng gạo làm bộ như không có gì xảy ra. Sở dĩ phải nói hơi chi tiết về sự tráo trở của tướng Collins, đó là vì đối với Việt Nam, nhất là đối với cụ Diệm, số các nhà ngoại giao và cầm quyền Mỹ, có tư cách và hành động giống như tướng Collins không phải ít. Họ tỏ ra hách dịch, trịch thượng rồi áp đảo, không phải chỉ khi chính sách Việt Nam khác với chính sách Mỹ mà thôi, mà cả những khi ước muốn cá nhân của họ không được thỏa mãn. Và, có quyền hành lại có tiền, họ làm gì mà chẳng được, khi giúp đỡ, cũng như khi quấy phá. Đàng khác, nếu nước Việt Nam còn là nước Việt Nam thì làm sao chính sách Việt Nam có thể luôn luôn giống chính sách Mỹ được? Huống hồ kẻ lãnh đạo một nước, cho dầu nước đó nhỏ bé đến đâu, vốn không thể nào thỏa mãn được mọi ước muốn cá nhân của các nhà cầm quyền và ngoại giao của một nước ngoài.

Dầu sao, sự thất bại của tướng Collins đã làm cho các nhà cầm quyền và ngoại giao Mỹ cần thận trọng trong một thời gian. Giây liên lạc Việt-Mỹ lại trở nên tốt đẹp. Cụ Diệm cố nhiên lợi dụng cơ hội này để đẩy mạnh chương trình của Cụ. Những kẻ quấy cụ, lục tục rời Sài gòn: Tướng Lawton Collins ngày 14 tháng5, và tướng Paul Ély, ngày 24 tháng 6. Pháp cũng triệt hồi đoàn quân viễn chinh của họ và hủy bỏ Tòa Cao Ủy Đông Dương. Còn ảnh hưởng của Bảo Đại thì sao?

(còn tiếp)

SƠ LƯỢC VỀ THÂN THẾ & SỰ NGHIỆP CỦA CỐ T.T. NGÔ ĐÌNH DIỆM (2)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *