SƠ LƯỢC VỀ THÂN THẾ & SỰ NGHIỆP CỦA CỐ T.T. NGÔ ĐÌNH DIỆM
Nguyễn Phương

 

Lời giới thiệu:

Bài viết này là của Linh mục Sử gia Nguyễn Phương (1921-1993), Giáo sư Sử Học tại Viện Đại Học Huế (1957-1975), tác giả một số công trình nghiên cứu sử học như sau: Liên lạc giữa Mỹ và Việt Nam (1957), Sự quan trọng của Đông Dương trước mặt quốc tế (1957), Ánh sáng Dân Chủ (1957), Phương Pháp Sử Học (1964), Việt Nam Thời Khai Sinh (1965), 82 Năm Việt Sử (1965, 125 Năm Thế Giới Sử (1965),Việt Nam Thời Bành Trướng: Tây Sơn (1967), The Ancient History of Vietnam (1976, di cảo chưa in), A parade of American Puppets (a story of South Vietnam from 1954 to 1975), 1978, di cảo chưa in, Cổ Sử Việt Nam trong Ngoại kỷ Toàn Thư, 1973, di cảo chưa in, Việt Nam Thời Bành Trướng: Trịnh Nguyễn, 1973, di cảo chưa in); Ngài cũng là dịch giả cuốn Nhật ký Chúa Giê-Su (Avec Jésus, au jour le jour, bản thảo chuyển ngữ tác phẩm của Linh mục Aulagnier), Đức Trinh Nữ Maria trong Di bút của Chị Maria Valtorta (La Vierge Marie dans l’oeuvre de Maria Valtorta của Linh Mục Gabriel M. Roschini, O.S.M) và tác phẩm chuyển ngữ trên 5,000 trang (chưa in) về một danh tác thuộc phạm vi Mạc Khải Tư (Révélation Privée) của Chị Maria Valtorta có tên “Người Thần Chuyện Thánh” (dựa trên bản tiếng Anh có tên The Poem of the Man-God, năm tập; bản tiếng Pháp có tên L’ÉVANGILE tel qu’il m’a été révélé, mười tập; bản tiếng Ý có tên IL POEMA DELL’UOMO-DIO, mười tập.) Linh mục sử gia Nguyễn Phương (bút hiệu Trúc Long) đã từng cộng tác với một số báo chí trong nước trước năm 1975 như Tạp chí Bách Khoa (Sài Gòn), Tạp chí Đại Học (Huế), Tạp san Sử Địa của nhóm sinh viên Đại Học Sư Phạm Sài Gòn. Ở hải ngoại Linh mục Nguyễn Phương cộng tác với Tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong, VA với khoảng 150 bài viết, một số bài cho tạp chí ĐấtMẹ của ông Nguyễn Phi Thọ ở Houston.

Tháng 10-1963, Linh mục Nguyễn Phương đã có cuộc tranh luận (bút chiến) với Văn Tân, Viện trưởng Viện Sử Học Hà Hội về chủ đề “Ai đã thống nhất Việt Nam? Nguyễn Huệ hay Nguyễn Ánh, trả lời ông Văn Tân Hà Nội”, bài viết trước xuất hiện trên Tạp chí Bách Khoa ở Sài Gòn và các bài kế trên Tạp chí Đại Học. Văn Tân cho rằng cuộc cách mạng Tây Sơn là cuộc cách mạng nông dân và giành cuộc thống nhất đất nước cho Nguyễn Huệ, trong khi Linh mục Sử gia Nguyễn Phương chủ trương công thống nhất đất nước vào đầu thế kỷ 19 là của Gia Long Nguyễn Ánh. Sử gia Hoa Kỳ Alexander B. Woodside đã viết về sử gia Nguyễn Phương và nhắc đến cuộc bút chiến hi hữu này trong cuốn Vietnam and the Chinese model (1988) của ông.

Tiến Sĩ Liam Kelly, Giáo sư Sử học của Trường Đại Học Hawai’i ở Manoa cũng đã tham khảo các công trình nghiên cứu sử học của Linh mục Nguyễn Phương trong vấn đề Cổ sử Việt Nam, các chuyện liên quan đến Hai Bà Trưng, Triệu Quang phục v.v… và là người đã từng đưa cuốn “Việt Nam Thời Khai Sinh” của Linh mục Nguyễn Phương lên mạng lưới điện tử.

Năm 2011, Sử gia Wynn Wilcox, Giáo sư Trường Đại Học Connecticut State, trong tác phẩm Allegories of the Vietnamese Past (do Trường Đại Học Yale phát hành) đã phân tích về cuộc bút chiến nói trên khá kỹ càng, và mới đây ngày 11 tháng 4-2015, sử gia Wynn Wilcox đã có trình bày một bài tham luận dài có tên “Vietnamese-American Historians in the United States, 1954-present” trong một cuộc hội thảo sử học gồm các giáo sư đại học Hoa Kỳ, nói về các công trình biên khảo sử học của Linh mục Sử gia Nguyễn Phương, dựa trên các tư liệu lịch sử của tôi đã phổ biến trước đây. Bài viết của GS Wilcox sẽ được Giáo sư Lê Đình Cai chuyển ngữ và sẽ in trên Tập Kỷ Yếu Viện Đại Học Huế sẽ được phát hành vào tháng 12-2015.

Một số sử gia gạo cội của Hà Nội sau này như Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng đã công tâm hơn khi cho rằng Nguyễn Huệ chưa bao giờ thống nhất được đất nước và họ đã ngả về luận thuyết của Linh mục sử gia Nguyễn Phương, và cho rằng đó là công trình của Gia Long Nguyễn Ánh.

Bài viết về Cố TT. Ngô Đình Diệm sau đây của Trúc Long Nguyễn Phương được đăng tải trên Tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong (số 119) của Chủ Nhiệm Nguyễn Thanh Hoàng ở Virginia khoảng ba thập niên trước đây. Bản tôi có trong tay là thuộc về một tập photocopy do Linh mục Nguyễn Phương để lại cho tôi sau khi mất (1993). Là môn sinh của Linh mục Nguyễn Phương, tôi có bổn phận bảo lưu các tài liệu sử học quý báu của Ngài và thấy có bổn phận phải công bố những tư liệu đó khi cần thiết để giúp cho giới nghiên cứu sử học có tư liệu lịch sử trung thực trong tay và độc giả có dịp thưởng lãm.

 

Nguyễn Đức Cung.
Philadelphia, ngày 19 tháng 10-2015

 

 

Tháng 2 năm 1946, Hồ Chí Minh trải qua một cơn khủng hoảng lớn, bị kẹt cả với Lư Hán, cả với d’Argenlieu. Hơn bao giờ hết, ông cần một người quốc gia chân chính, chẳng những để làm bình phong cho ông trước mặt quốc tế, mà còn để có thể hô hào nhân dân trong nước ủng hộ. Nhìn quanh với cặp mắt tinh đời của ông, ông vẫn không tìm được ai hơn cụ Ngô Đình Diệm, kẻ đã bị cán bộ ông bắt giam ở mạn ngược, nhưng lúc đó đang được đem về khám Hà Nội để điều trị bệnh sốt rét. Ở Phủ Chủ Tịch Nhà Nước, khi đối diện Hồ Chí Minh và nghe ông này đề nghị tham chính, cụ Diệm đã không ngần ngại nói:

“- Không thể được, Ông có chính sách cứu nước của ông, và tôi có chính sách của tôi. Ông có cam đoan được rằng ông sẽ bỏ thuyết vô sản chuyên chính không? Khắp nơi, cán bộ ông đang thi hành thuyết đó. Họ giết hết các nhà quốc gia chân chính. Họ giết cả anh em tôi”.

Đến đây Hồ Chí Minh cảm thấy phải chữa mình. Ông nói: “Vậy mà tôi không hay biết gì cả. Nước đang lâm cảnh loạn ly. Xin ông ở lại với tôi để cùng nhau chống Pháp”.

Dường như cả hai người đều hiểu rằng chỉ có vì sợ cụ Diệm mới chấp nhận. Cụ lên tiếng: “Ông biết tôi là ai không?Tôi không phải hạng hèn nhát.” Hồ Chí Minh vội vàng nói đỡ: “Không. Ông không hề hèn nhát.” Cụ Diệm tiếp: “Vậy thì để cho tôi đi”. Và Hồ Chí Minh để cụ Diệm ra đi.

Hồ Chí Minh bỗng nhiên tha cụ Diệm thật là một sự kiện đáng lưu ý. Hỏi tại sao một kẻ, trong năm 1925, đã phản bội cụ Phan Bội Châu, một nhà quốc gia cách mạng, kẻ đã giết Tạ Thu Thâu, cũng là cộng sản như ông, chỉ vì sợ họ đối lập với ông lại có thể trả tự do cho cụ Diệm, đang khi cụ ở dưới quyền sinh sát của ông? Tại sao cụ Diệm, một tù nhân lại có thể lên án Cộng sản trước mặt Hồ Chí Minh, một tên trùm Cộng sản, mà ông không trừ cụ đi để ngừa nhiều khó khăn về sau? Phải chăng Hồ Chí Minh kính nể cụ Diệm, vì mong rằng Cụ có thể cứu nước, trong khi chính mình ông đang bị kẹt nhiều đàng?

Thật ra, không sao trả lời được các câu hỏi đó cho dứt khoát. Vả lại, trên đời, hỏi mấy ai hiểu nỗi nhiều hành động của Hồ Chí Minh? Năm 1962, khi Bernard Fall, một nhà báo Mỹ rất thân với Cộng sản, chất vấn về cuộc đời của ông, ông xin hắn để cho ông giữ một tí bí mật về cuộc đời của ông. Biết đâu việc thả cụ Diệm là một trong các “bí mật” đó? Nhưng có một điều này đã thành một sự kiện lịch sử, là Hồ Chí Minh đã thả cụ Diệm chính khi cụ tuyên bố với ông rằng cụ vốn có một chính sách cứu nước không giống với của ông ta.

Hỏi cụ Diệm là ai mà Hồ Chí Minh phải kính nể như vậy? Để trả lời, có lẽ không gì bằng nhắc lại câu ngạn ngữ mà dân chúng miền Trung quen nói từ sau 1933:

Đày vua không Khả,
Đào mả không Bài,
Hại dân không Diệm.

Lịch sử thất bại của gần một trăm năm đô hộ của Pháp có thể tóm tắt trong ba câu ngắn ngủi đó, và trong ba câu, gia đình họ Ngô đã chiếm mất hai, “không Khả” tức chỉ cụ Ngô Đình Khả, thân sinh cụ Diệm, và cố nhiên “không Diệm”, Diệm chính là Cụ.

Pháp xâm lăng Việt Nam với ba mục đích trong đầu óc: thứ nhất là đàn áp để cai trị. Vâng lệnh chúng thì chớ, chứ ai ngóc đầu lên thì họ giết, và nếu không giết được vì sẽ gây phẫn nộ sâu xa trong quần chúng, thì chúng đày đi. Chúng đã đày vua Hàm Nghi, rồi vua Thành Thái, rồi vua Duy Tân. Mục đích thứ hai là bóc lột thuộc địa để làm giàu mẫu quốc. Chúng đánh thuế muối, thuế rượu, thuế đinh, thuế điền. Bấy nhiêu chưa đủ, chúng còn muốn đào mả nhà vua để lấy các bảo vật được chôn trong các lăng tẩm. Nhưng mục đích quán xuyến hơn cả là đô hộ, nói rằng đất nước Việt Nam không còn thuộc về người Việt Nam, mà chủ quyền của Việt Nam là ở trong tay chúng.

Cụ Ngô Đình Khả đã khẳng khái chống lại mục đích thứ nhất. Thiếu thời Cụ đi tu. Vì thông minh dĩnh ngộ, Cụ được gửi sang Pénang, một đảo thuộc Anh ở Mã Lai, nằm về phía Vịnh Băng gan, theo học Cao học tại đó, nhưng bấy giờ đảng Cần Vương đang hoạt động mạnh và nhiều người trong họ hàng Cụ tử đạo, nên Cụ phải bỏ dở việc tu để trở về giúp gia đình. Tài học và đức độ của Cụ đạt vào tình trạng phải đứng ra gánh vác việc chung. Cụ ra làm quan, đứng đầu triều đình của Thành Thái, và đồng thời là thầy dạy của nhà vua. Khi Pháp manh tâm đày vua Thành Thái, Cụ đứng lên công khai phản đối và bỏ triều đình về hưu. Câu “Đày vua không Khả” còn có nghĩa là đày vua không có thể, vì Khả 可 là có thể. Thực ra Pháp vẫn đày vua Thành Thái, nhưng việc phản đối của cụ Thượng Khả đã đặt một đà chống Pháp cho các người nghĩa khí về sau.

Kế cụ Ngô Đình Khả là cụ Nguyễn Hữu Bài. Cụ Thượng Bài, với chức Thượng Thư Bộ Lại, một vị quan được Pháp kính nể bậc nhất. Nhưng khi việc mưu đồ bới lăng tẩm để lấy vàng và bảo vật được tiết lộ, Cụ phản đối kịch liệt và cuối cùng Pháp phải thúc thủ. “Đào mả không Bài” còn có nghĩa là đào mả không có giấy phép vì Bài 牌 cũng có nghĩa là giấy phép.

(còn tiếp)

SƠ LƯỢC VỀ THÂN THẾ & SỰ NGHIỆP CỦA CỐ T.T. NGÔ ĐÌNH DIỆM (1)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *