Cùng một phương pháp như Mafia

Câu truyện trên đây cũng có thể áp dụng cho cậu thiếu niên hơn 1400 năm về trước: Mô-ha-mét là một khách lạ trên chính đất nước mình. Bộ tộc của ngài đã không nhận ra ngài và làm tổn thương ngài. Ngài chạy trốn vào chốn siêu hình, đi tìm cho mình một căn cước lớn hơn. Bước đầu tiên, ngài nối mình vào Áp-ra-ham. Mô-ha-mét coi Áp-ra-ham không những là một mẫu gương của mình về khía cạnh tôn giáo độc thần, mà còn coi ông như một vị nguyên tổ thật sự. Trong Ko-ran, Mô-ha-mét gọi Áp-ra-ham là Umma, một dân tộc. Ngài tìm tới Áp-ra-ham qua Ít-ma-en, con của Áp-ra-ham, nhân vật hầu như bị Kinh Thánh bỏ quên. Mô-ha-mét tự coi mình là người được ưu tuyển và Ít-ma-en là nhân vật dọn đường cho việc ưu tuyển đó. Mô-ha-mét đã nổi điên, khi người ta nghi ngờ mối liên hệ giữa ngài với Ít-ma-en, là vì như thế sẽ làm gẫy đổ liên hệ của ngài với Áp-ra-ham và do đó huyền thoại hình thành của Islam cũng gẫy đổ theo.

Những nhà cải cách hồi giáo ngày nay quả quyết, sự hình thành Islam nguyên là một cuộc cách mạng đạo đức và xã hội chống lại bất công trong các miền ả-rập, nhưng sau đó đã bị phái Omaijad biến thành một tôn giáo chiến tranh. Những cảm tình viên của Mafia cũng lí luận tương tự như vậy; họ bảo, Mafia nguyên là một phong trào đấu tranh chống lại sự thống trị của người Pháp ngoại bang. Chữ Mafia, cũng theo họ, là viết tắt của „Morta Alla Francia Italia Anela“ (Nước Í cầu mong cho Pháp chết đi). Nhưng Mafia chẳng bao giờ là một tổ chức đứng đắn. Islam cũng thế, nó hình thành từ một tổ chức huynh đệ gắn bó thề thốt với nhau, họ gắn bó vì cùng chung một sự ngờ vực những người không cùng một gia đình, không cùng một bộ lạc với họ. Ko-ran mô tả cộng đoàn đầu tiên của Hồi Giáo như sau: „Mô-ha-mét là sứ giả của Ah-la. Và những ai làm một với ngài đều quyết liệt đối với những kẻ không tin, còn giữa họ thì nhân từ với nhau“. Giữa họ với nhau thì thân tình, nhưng đối với kẻ thù thì tàn bạo. Một người lính của Mô-ha-mét có thể khóc lóc vì kính sợ khi cầu nguyện, nhưng vài phút sau đó có thể cắt cổ một người ngoài đạo. Cũng thế, một thành viên mafia có thể say sưa nghe giảng trong nhà thờ về lòng nhân ái, nhưng ngay sau đó có thể bắn chết người khác trên đường.

Một tương đồng nữa: không ai được quyền nói trái lại hay phê bình đại lãnh tụ. Việc hôn tay lãnh tụ nói lên sự trung thành và hi sinh tuyệt đối của đàn em. Mô-ha-mét không bao giờ chấp nhận lời xin lỗi của tín đồ trong việc chểnh mảng cầu kinh hay không muốn tham dự chiến trận do ngài phát động.  Ngài nói: „Không ai trở thành một tín đồ đích thực, nếu người đó không yêu ông hơn cả cha mẹ ruột, con cái và những người khác“.

 

Vấn đề đối với phụ nữ

Nhưng bạo chúa cũng chỉ là những người đàn ông. Họ thường có một cuộc sống riêng tư chẳng phù hợp gì với hình ảnh cha già lãnh tụ của họ. Một người luôn luôn nắm quyền quyết định trên việc sống chết của người khác, thỉnh thoảng cũng muốn trở nên yếu đuối. Tiên tri Mô-ha-mét cũng bị quá tải vì quyền lực của mình.  Càng quyền lực, ngài càng cô đơn. Càng về già, thái độ của ngài đối với phụ nữ càng trở nên như cậu thiếu niên dậy thì – lúc dễ thương, lúc nhẫn tâm, thường thì thiếu tự tin và đầy ghen tị. Ngài ra luật bắt họ phải dùng khăn phủ mặt, hạn chế tự do của họ và chỉ cho phép họ nói chuyện với đàn ông khi có một bức tường ngăn cách giữa hai người.

Vào cuối đời, ngài cư xử với phụ nữ như là những đồ vật, mà người ta đã gom góp được tuỳ thích. Tiếp theo Khadisha, người vợ đầu tiên, ngài lấy thêm 11 bà khác, 9 trong số đó sống chung với ngài trong một nhà. Bên cạnh, ngài còn làm hôn thú với 14 bà khác, nhưng không ăn nằm với họ. Ngoài ra, ngài còn đính hôn với hơn hai chục bà khác. Đó là chưa nói tới số lượng nô tì mà ngài cướp được trong các trận chiến cũng như do người ta tặng cho ngài. Ngay cả sau khi chết, Mô-ha-mét còn ham gái, khi ra lệnh cấm những phụ nữ goá này không được tái hôn với ai cả. Ngài nhẫn tâm đặc biệt đối với người vợ trẻ Aisha, vì, theo các nguồn hồi giáo, cô trở thánh goá bụa khi tuổi vừa 18.

Khi ngài cưới Aisha, cô bé vừa tròn 6 tuổi. Cuộc hôn nhân của vị giáo tổ này đã mở ra tục tảo hôn nơi đạo Hồi kéo dài nhiều trăm năm. Ngày nay, nhiều tín đồ theo khuynh hướng thông thoáng tỏ ra xấu hổ về chuyện lấy một đứa trẻ 6 tuổi; vì thế họ tìm mọi cách để biện minh. Một vài vị bảo rằng, đúng là nhà tiên tri lấy Aisha lúc 6 tuổi, nhưng sau ba năm ngài mới ăn nằm với vợ. Các nhà biện giải islam bảo rằng, thời đó con gái 9 tuổi là đã khá trưởng thành thể lí rồi. Nhưng sự thật như vầy: Thứ nhất, chính Aisha cho hay, ngay từ đầu Mo-ha-mét đã mày mò cô đủ thứ về đàng tình dục, ngài chỉ không giao cấu mà thôi. Thứ hai, một trẻ 9 tuổi là một trẻ con, và xưa cũng như nay, đó vẫn là một đứa trẻ. Ngay thời Mô-ha-mét, không có tục một người đàn ông lấy một đứa trẻ.

Một số nhà biện giải khác hồ nghi về tuổi của Aisha. Nhưng cái ngớ ngẩn là họ không chịu hiểu rằng, chính Aisha cho biết tuổi của cô khi lấy Mô-ha-mét. Giờ đây, một vài nhà nghiên cứu islam trong thế kỉ 21 muốn gạt qua chuyện việc éo le đó. Họ muốn dùng Aisha để nói lên cái thế giới quan đầy nhân bản của nhà tiên tri. Nhưng rõ ràng: Lối hành xử của Mo-ha-mét không chỉ bị phê phán theo những tiêu chuẩn của thế kỉ 21; nó đã trái với các tục lệ và truyền thống phổ cập của thời ngài còn sống.

Mặc dù rất đỗi yêu Aisha, Mo-ha-mét cứ khoảng 6 tháng lại cưới một phụ nữ khác. Về sau, Ngài quan tâm mạnh tới đề tài bất trung. Không những ông bắt áp dụng rốt ráo luật che mặt, mà còn đưa ra những luật mới chống lại việc bỏ vợ bỏ chồng: Ai dâm ô, bị đánh 100 roi. Ai bỏ chồng bị ném đá tới chết. Cho tới ngày hôm nay, các phụ nữ ở I-rắc, Si-ri, Ni-gê-ri-a bị lạm dụng như là những chiến lợi phẩm; gần hết các phụ nữ trong thế giới hồi giáo bị đánh đập. Họ bị gây thương tật cơ quan tình dục, bị ném đá, bị giết vì danh dự gia đình, bị tạt a-xít những ai không che mặt, đó là những hình thái hận thù phái nữ tàn bạo nhất đối với phụ nữ trong thế giới hồi giáo. Ta không thể nói chỉ Mô-ha-mét và Ko-ran phải chịu trách nhiệm cho những điều này, nhưng đó là hai yếu tố góp phần rất lớn vào thực tế bất hạnh.

Theo Ko-ran, nhiệm vụ của người đàn bà trong cộng đoàn hồi giáo trước hết là giúp cho người đàn ông „giải quyết“. Trước khi binh lính của IS có thể bắt phụ nữ theo đạo Giê-sít và Ki-tô Giáo làm chiến lợi phẩm phục vụ tình dục, họ đã hô hào thanh niên si-ri theo họ, bằng cách cho những người này biết, là họ được phép tiến hành một thứ thánh chiến thoả mãn tình dục (Sex-Dschihad). Ngược lại, các phụ nữ hồi khắp thế giới, đặc biệt ở Bắc Phi, sẵn sàng hiến mình cho các thánh chiến quân thoả mãn nhục dục. Những học giả phái Su-nít cổ xuý cho loại thánh chiến tình dục bảo rằng, chính Mô-ha-mét đã cho phép binh lính nơi chiến trường dài ngày của mình được phép „lấy vợ để chơi“. Ở đây, chẳng người ta chẳng đếm xỉa gì tới chuyện đạo đức, mà tất cả là vì một nguyên tắc cao hơn: thánh chiến.

Và sau đó, thiên đường ra sao? Có một thứ nhà thổ thiên đình, ở đó mỗi chiến sĩ tử đạo được 72 cô gái đẹp phục vụ, và thêm 70 nô tì để sử dụng (Chú của người dịch: Tại sao lại có những con số lạ lùng này? Hẳn là do đọc và hiểu sai kinh Ko-ran). Nhà thần học thời Trung Cổ al-Suyuti viết: „Mỗi lần chúng ta ngủ với một Huri (gái điếm ở thiên đình. Chú của người dịch), người nữ này sau đó sẽ biến thành một trinh nữ. Dương vật của người hồi giáo không bao giờ mệt mỏi. Sự cương cứng kéo dài mãi mãi, và sự thoả mãn lúc giao hợp vô cùng ngọt ngào và không phải như nơi dương thế. Mỗi người được tuyển chọn sẽ có 70 Huris, chưa kể các người vợ của mình lúc ở trần thế. Tất cả đều có một âm đạo quyến rũ thơm ngát“.

Trong tiếng Ả-rập, ít có chữ nào có nhiều từ đồng nghĩa như chữ giao hợp. Và hầu hết các từ này không diễn tả hành động ái ân, song nói lên hành vi bạo lực. Trong cuốn từ điển đầu tiên của lịch sử ả-rập viết năm 1290, khi tra chữ nikah, ta sẽ gặp được rất nhiều từ, trong đó có những từ mang khái niệm như sau: bước lên, giao chiến, tấn công, bắn trúng, làm bị thương, kiệt lực, bắn, cùng chung nhau, gõ, đạp lên, ngã, tông nhau, đẩy vào, bố ráp, đâm, kêu la.

Mô-ha-mét trước đây không hẳn thù hằn phù nữ. Ngài nói nhiều câu tích cực về phụ nữ và nhắc nhở các đồng chí mình phải đối xử thương yêu với vợ. Cũng chẳng có tài liệu nào đề cập tới chuyện ông đánh vợ. Nhưng trong Ko-ran, ngài giao cho đàn ông được toàn quyền đánh vợ, nếu vợ tỏ ra ương ngạnh. Chính những vị hồi giáo trung dung ngày nay cũng cảm thấy ngọng miệng, khi buộc phải nói: „Đánh phụ nữ là sai, chẳng có chữ nếu hay nhưng gì cả! Dù cho Ko-ra có nói thế nào đi nữa“. Nhưng cùng lúc, họ lại lặp lại lời của nhà tiên tri khuyên rằng, có đánh thì đừng để lại dấu vết, và phải tránh đánh vào mặt.

 

Bệnh hoang tưởng và cuồng say kiểm soát

Nhà tiên tri có quyền và ảnh hưởng trên cái thế giới do ngài tạo ra. Nhưng tại sao ngài lại có cũng một quyền và ảnh hưởng như thế trong một thế giới mà ngài chưa từng biết đến? Tại sao trong thế kỉ 21 ngài còn phải ấn định ai được yêu ai, được lấy ai và người ta nên làm gì, ăn gì hay mặc gì? Tại sao tín đồ hồi giáo lại đẩy nhau vào cái lồng lịch sử đó?

Ta có thể tố giác Mô-ha-mét nhiều cái, nhưng chỉ có một cái không được, đó là bảo ngài là một kẻ nói dối. Sự đam mê, khả năng chịu dựng, lòng quyết tâm của ngài cho thấy, ngài thật sự tin vào việc mình đã nhận được các thông điệp của thượng đế. Ngài hi vọng có một quyền lực từ trên cao nâng đỡ ngài. Thoạt đầu, ngài đi tìm sự giải phóng, nhưng rốt cuộc chính ngài là một tù nhân. Một kẻ đắm say muốn kiểm soát người khác. Không chỉ hình ảnh thiên chúa của ngài phản ảnh điều đó. Nhiều nghi thức hồi giáo chỉ là những lặp đi lặp lại vô nghĩa, chẳng hạn như việc cúi rạp khi cầu nguyện và những tục tẩy uế. Mọi tín đồ islam, ngay cả những người ở trong các vùng khô ráo nhất, đều phải rửa mình mỗi ngày năm lần để cầu nguyện; khi rửa, phải thoa nước ba lần lên mỗi cơ phận thân thể. Nếu không có nước, phải dùng cát để tẩy uế tượng trưng. Những cơ phận nào không được thoa nước hay các tới nơi, theo lời dạy của Mô-ha-mét, sẽ bị thượng đế thiêu huỷ vào ngày tận thế.

Có lẽ nhà tiên tri bị chứng cuồng tẩy uế, xuất phát từ cảm thức tội lỗi lẫn từ bệnh cuồng say kiểm soát. Cho tới ngày nay, người đàn ông hồi phải rửa tay trước khi cầu nguyện, nếu trước đó anh ta đưa ta cho một người nữ nắm. Khi bước vào nguyện đường, phải đưa chân phải vào trước; bước vào nhà vệ sinh, phải đưa chân trái trước. Cầu nguyện phải làm trước việc đi vệ sinh, để khỏi bị ma quỷ đang lởn vởn trong nhà vệ sinh làm hại. Sau khi vệ sinh xong, lại phải cầu nguyện cám ơn thượng đế đã bảo vệ mình khỏi sự dữ. Còn vô số những thứ khuyên răn như thế, chúng gây cản trở việc tự do tổ chức sinh hoạt hàng ngày của tín hữu.

Để trở thành một tín hữu islam tốt, người đó phải từng li từng tí làm theo vị tiên tri. Chẳng còn cái gì gọi là sự tự quyết, sự linh động, sự sáng tạo. Ngày nay, những vị đạo chủ bảo thủ dùng những ngón này để tìm cách mở rộng quyền lực trên tín hữu. Các buổi truyền hình chỉ xoáy vào mục đích giải đáp các câu hỏi, làm sao cho „đúng với í của vị Giáo Tổ“. Người ta chẳng đoái hoài gì tới việc làm sao để có được lối cư xử đúng, mà chỉ xoay vào việc coi những gì không làm đúng theo lề luật đều là „tội lỗi ô uế“. Ngày nay, cảm thức tội lỗi và mong ước được tẩy uế là hai động cơ quan trọng đẩy con người vào chỗ quá khích. Nhánh hồi giáo quá khích tự coi mình là kẻ thừa hưởng đúng đắn gia sản của vị tiên tri.

 

Yêu chết hơn sống

Ai tự đánh giá mình quá cao, cũng thường hay đánh giá quá cao sự thù địch của môi trường chung quanh. Những tài liệu ban đầu của Islam cho biết Mo-ha-mét đã thoát được 15 cuộc ám sát: ba lần ám sát bởi dân ngoại người Ả-rập và 12 lần bởi người Do-thái. Kinh Ko-ran cho hay, thượng đế đã họp con người thành dân tộc, để họ làm quen với nhau (câu 49:13). Nhưng Mô-ha-mét thì lại tiên tri: „Một ngày nào đó, các dân tộc sẽ tấn công các ngươi. Bởi vì các ngươi yếu lòng. Tâm các ngươi trở nên yếu đuối, vì các ngươi yêu sự sống và ghét cái chết“. Vì thế, tín hữu islam đòi buộc phải yêu cái chết hơn sự sống. Một trong những câu tuyên ngôn chiến đấu mà đám khủng bố trưng ra để chống lại phương tây: „Chúng bay yêu sống, chúng tao yêu chết“ nói lên xác tín đó.

Trong Ko-ran chẳng có chỗ nào cho thấy rõ ràng những ai nói xấu vị tiên tri sẽ bị án tử. Nhưng trong sách tiểu sử của Mô-ha-mét thì dẫy đầy những câu truyện giết người theo lệnh của ngài, vì họ đã nói xấu ông. Truyền trụng nói tới hơn 40 trường hợp, trong đó có một vài thi sĩ và ca sĩ đã chết vì cười cợt ngài. Ta đọc được trong tập Hadith do Abù Dawùd viết: „Vị tiên tri khám phá ra một xác chết phụ nữ trước nhà nguyện của mình. Ông hỏi những kẻ đang cầu nguyện, ai giết bà ta. Một người mù liền dơ tay nói: ‚Tôi. Nó là con nô lệ của tôi, và tôi có với nó hai đứa con, quý như ngọc. Nhưng ngày hôm qua nó nói xấu ngài, vị tiên tri của thượng đế. Tôi bảo nó, không được chửi ngài nữa. Nhưng nó cứ tiếp tục. Tôi không chịu được, nên giết nó’. Mô-ha-mét trả lời: ‚Máu của người đàn bà này đổ ra là đáng!“.

Cái rùng rợn của câu truyện không chỉ là việc một người đã giết mẹ của hai đứa con của mình, mà ở đây người ta đã tư nhân hoá bạo lực. Không chỉ người lãnh đạo hay cơ quan nhà nước có quyền ra án tử – mà giờ đây mọi tín hữu islam đều được quyền đó. Tháng 6.2014, khi tôi trong một buổi thuyết trình ở thủ đô Cairo quả quyết rằng, chủ nghĩa phát-xít hồi giáo đã bắt đầu có từ thời Mô-ha-mét rồi, thì liền một giáo sư của Đại Học Al-Azhar đứng lên hô hào mọi người hãy giết tôi, và ông ta đã trưng ra câu truyện bà nô lệ bị giết trên đây làm bằng chứng cho sự đúng đắn của lời kêu gọi của ông.

Đầu năm 2015, một đám loạn dân ném đá chết một cô gái a-phú-hãn, nghe nói là vì cô đã đốt cuốn kinh Ko-ran. Một cô giáo người Anh ở Su-đan phải vào tù, vì cô đặt tên cho con gấu nhồi bông của mình là „Mô-ha-mét“. Đội bóng đá của Đức Schalke 04 bị chỉ trích, vì trong bài ca của đội bóng có câu: „Mô-ha-mét là một tiên tri, tiên tri này chẳng hiểu gì về bóng đá“. Hội Đồng Trung Ương Hồi Giáo ở Đức cũng đã xác nhận: Mô-ha-mét không thể có được hiểu biết gì về bóng đá cả.

Bệnh của thế giới hồi giáo có thể được chữa lành, nếu những người hồi giáo biết tách mình ra khỏi những căn bệnh trầm kha của Mô-ha-mét: tự đề cao mình quá lẽ, hoang tưởng, không chấp nhận bị phê bình, cũng như khuynh hướng luôn cảm thấy mình bị người khác gây tổn thương . Cũng cần phải xét lại hình ảnh méo mó về thượng đế, một hình ảnh được các tay chuyên quyền độc tài lấy đó làm gương cho mình. Chủ trương bảo căn (Fundamentalismus) không phải là một hậu quả của việc diễn giải sai đạo Islam, nhưng là hậu quả của việc đặt đạo này lên quá cao. Tiến trình cải tiến Islam sẽ bắt đầu, khi tín hữu islam dám phóng thích Mô-ha-mét ra khỏi chiếc cũi bất khả xúc phạm của họ. Chỉ khi đó chính họ mới thoát ra được khỏi nhà tù đức tin, để trở nên một thành phần của hiện tại, hiện tại này không phải do thượng đế, mà do con người định đoạt.

Phạm Hồng-Lam
Dịch theo bản của Die Zeit, số 38, ngày 17.09.2015

Nhà Tiên Tri Nguy Hiểm (Phần II)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *