Nhà Tiên Tri Nguy Hiểm

 

Mô-ha-mét là tấm gương sống cho hàng triệu tín đồ hồi giáo – và cả cho những tên khủng bố. Chuyên gia hồi giáo Hamed Abdel-Samad phê phán ngài là một người bị bệnh hoang tưởng và là một bạo chúa.

Hamed Abdel-Saman (1972) là con của một đạo chủ (Imam) phái su-nít ở Ai-cập. Từ nhỏ ông đã học Ko-ran và các kinh sách hồi giáo. Năm 19 tuổi, ông gia nhập tổ chức „Anh Em Hồi Giáo“, sau đó rời bỏ, vì thấy tổ chức này đi theo chiều hướng quá khích, và bỏ sang Đức sinh sống. Ông tốt nghiệp chính trị học, hiện làm việc với tư cách nhà nghiên cứu tại ghế Khoa học Hồi giáo của Đại Học Erfurt và tại Viện Lịch sử do-thái ở München, Đức.

Năm 2013 ông ra sách tố cáo „Anh Em Hổi Giáo“ đi theo chủ nghĩa phát-xít. Các luật sĩ hồi giáo liền ra vạ Fatwa và hô hào tín hữu giết ông. Đầu tháng 10.2015 ông cho xuất bản cuốn „Mô-ha-mét. Một Cuộc Tính Sổ“. Sách này ông cho in bằng tiếng Đức, chứ không bằng tiếng Ả-rập như những tác phẩm trước đây, vì ông biết rằng, nó sẽ không thể xuất bản được ở Ai-cập và bằng tiếng Ả-rập. Thay vào đó, ông chuyển thành 20 bài thuyết trình bằng tiếng Ả-rập và đưa lên mạng (có thể nghe: youtube.com/channel/CnTJcc901wCa5vZQQot8fCw). Trong ba tháng đã có một triệu người khắp nơi trên thế giới nghe.

Hamed Abdel-Samad nổi tiếng là một nhà phê bình islam triệt để. Ông hiện sống dưới sự bảo vệ của cảnh sát đức. Sau đây là trích một phần trong cuốn sách vừa xuất bản.

 

hamed ii

Nhiều tín hữu đạo Hồi ngày nay vẫn còn là tù nhân của Ma-hô-mét, một nhân vật bí hiểm sống trong thế kỉ thứ 7. Nhưng cả Mô-ha-mét lịch sử cũng là một tù nhân – của những người nhắm mắt tôn thờ và nhất quyết buộc không ai được động tới ngài. Sự kiện nhà tiên tri này hiện diện toả khắp trong lãnh vực giáo dục và chính trị, cũng như việc nhấn mạnh thái quá những yếu tố tôn giáo trong các xã hội hồi giáo làm cho việc tìm kiếm những nguồn chứng khác về căn cước của ngài trở nên khó khăn. Tất cả mọi sự đều quy hướng vào ngài, ngài toả trùm lên tất cả và quyết định trên cuộc sống thường ngày của các công dân, các nhà chính trị và nhà thần học hồi giáo. Sự gắn bó tình cảm của tín hữu vào Mô-ha-mét và sự đề cao ngài một cách thiếu suy xét của họ cũng làm cản trở cuộc thảo luận khoa học về nhân vật này.

Khi còn là một tín hữu đạo hạnh nghiêm nhặt, tôi nghĩ, mình đã biết hết rồi về Mô-ha-mét, bởi vì tôi đã đọc tiểu sử của ngài, đã đọc kinh Ko-ran và nhiều tài liệu Hadith – những câu nói của ngài không được ghi trong Ko-ran. Nhưng trong cương vị một nhà nghiên cứu, tôi phải giữ một khoảng cách về ngài. Và càng nghiên cứu nhiều về Mô-ha-mét, côi càng có cảm tưởng như mình đang nắm trong tay một bộ bài Ta-rô. Mội vài lá bài mang lại cho tôi an ủi và hi vọng, một vài lá khác gây lo sợ. Nơi thì cho thấy ngài là một nhà giảng thuyết từ Méc-ca giàu lí luận về mặt đạo đức. Nơi thì cho thấy đó là một nhà lãnh đạo chiến tranh bất khoan dung từ Medina. Ở đây, ngài là một nhân vật cổ xuý cảm thông và tha thứ. Nơi kia, là một tay giết người hàng loạt và là một bạo chúa mang chứng tâm thần.

Vì thế, tôi không muốn viết thêm một cuốn tiểu sử mới về Mô-ha-mét, mà chỉ muốn đưa ra một „cuộc tính sổ“, nghĩa là những cảm nghĩ rất riêng của mình khi tiếp cận sát với con  người của ngài. Cuộc tính sổ không những dựa trên các tiêu chuẩn của ngày hôm nay, mà còn trên các tiêu chuẩn đạo đức và xã hội của thời ngài sống. Là vì, dưới mắt những người đồng thời, Mô-ha-mét cũng là người đã làm nhiều điều bỉ ổi. Ngoài ra, tôi cố gắng tìm hiểu xem, đâu là những động lực chính trị và tâm lí của các hành động của ngài.

Say quyền lực và mơ ước được công nhận

Mô-ha-mét là một trẻ mồ côi, không được nuôi dưỡng bởi gia đình, mà lớn lên theo những người du cư xa lạ trong sa mạc. Khi trở lại Méc-ca, ông phải chăn cừu cho bộ lạc như một chú nô lệ, bị mọi người coi thường. Ông không những thiếu tình thương và sự chăm sóc của cha mẹ, mà còn thiếu cả mẫu mực gương sống. Thành ra, ngay từ nhỏ, ông đã là một tay chiến đấu đơn độc. Về sau, ông cưới một bà goá giàu và trở thành người hướng dẫn thương đoàn lạc đà trong tổ chức kinh doanh của vợ, tạo được danh giá và hạnh phúc. Nhưng năm 40 tuổi bỗng nhiên ông gặp một khủng hoảng về í nghĩa cuộc đời. Ông lang thang một mình trong sa mạc, ngồi suy tư trong một hốc đá, gặp được những thị kiến và cả quyết rằng, ông đã nghe được các tảng đá trò chuyện với mình. Ông rơi vào hoảng loạn và có í muốn tự tử. Và ông tin rằng, mình đã nhận được một mạc khải từ trời cao gởi tới cho ông.

Một biến cố bản lề thứ hai trong đời Mô-ha-mét là lần rời Méc-ca trở về Medina. Tại đây, không những ngài đã lập nên quốc gia hồi giáo đầu tiên, mà còn hiện hình như là một tiên tri bạo lực, sẵn sàng bước qua xác chết để đạt mục đích. Sự khác nhau giữa Mô-ha-mét ở Méc-ca và Mô-ha-mét ở Medina cũng giống như giữa thanh niên Lenin say mê thuyết mác-xít với Lenin sau khi ngồi vào ghế chủ tịch xô-viết. Sau khi chiếm được quyền lực, các nguyên tắc lí tưởng ban đầu dần bị đẩy vào hậu trường, luận lí quyền lực và nỗi sợ bị phản trắc giờ đây quyết định gần như mọi chuyện. Hết trận chiến này, lại đòi phải có các trận chiến khác, và Mô-ha-mét đã mở đầu một làn sóng chiến tranh giành đất chiếm dân vô tiền khoáng hậu, vẫn không ngừng ấn dấu trên thế giới cho tới hôm nay.

Nhân cách khó hiểu của ngài cũng dễ hiểu như quan hệ của ngài đối với phụ nữ. Ngài đối xử với họ không như một bạo chúa, mà như một đứa trẻ luôn lo sợ mất người thân – và điều này còn ấn dấu trên phụ nữ hồi giáo mãi tới hôm nay. Khăn che mặt, tục đa thê, đàn áp phái nữ chẳng phải là tất cả những thứ nói lên nỗi sợ mất mát của ngài. Nhưng đồng thời ngài cũng phát biểu khá tích cực về phụ nữ, một số tín hữu hồi còn dám cả quyết, ngài là người giải phóng phụ nữ.

Mô-ha-mét say quyền lực và mê được công nhận. Ngài đi tìm điều này nơi các phụ nữ – và nơi các cuộc chiến. Chỉ trong vòng tám năm cuối đời, ngài đã tiến hành trên 80 trận chiến. Ngài không ngừng tìm kiếm sự công nhận và chỉ đạt được nó qua thanh kiếm. Nhưng càng quyền lực bao nhiêu, ngài lại càng bị quyền lực thúc đẩy bấy nhiêu. Càng giết được nhiều kẻ thù, cơn hoang tưởng nơi ngài lại càng lớn. Ngài kiểm soát chặt chẽ binh lính dưới quyền mình ở Medina. Ngài tìm mọi cách thống trị và ấn định luật lệ, ngay cả trên giấc ngủ của họ. Năm lần trong ngày, ngài tập trung họ cầu nguyện, để bảo đảm sự trung thành của họ đối với mình. Ngài cảnh giác họ về những nhục hình nơi hoả ngục. Những kẻ phạm tội bị đánh đòn. Những kẻ sống vô độ hay bỏ đạo thì bị giết. Ngài tự tay quyết định đâu là tội, đâu là không.

Một kẻ không ai đoái hoài, bị ngược đãi trở thành thống lãnh chiến tranh

Hạt mầm của bất bao dung là việc tôn vinh chiến tranh và kết án những kẻ ngoại giáo nơi những câu cuối của kinh Ko-ran. Vì Ko-ran được coi là lời muôn đời và có giá trị muôn thủa của thượng đế, nên những người hồi quá khích hôm nay coi đó là sự chuẩn nhận cho chủ trương chiến tranh tôn giáo (Dschihad) của họ. Mô-ha-mét không những hứa hẹn thiên đàng đời đời cho các tay kiếm của mình, mà còn hứa ban cho họ lợi lộc và gái đẹp nô tì nơi đời này. Đó là thời khắc khởi đầu của một nền „kinh tế hồi giáo“. Chiến lợi phẩm, mua bán nô lệ và việc đánh thuế thân những người ngoại giáo vẫn là những nguồn thu nhập chính cho các nhà lãnh đạo hồi giáo mãi nhiều thế kỉ sau khi Mô-ha-mét mất. Dù là Omaijad, Abbasid, Fatimid, Mameluck hay Oman – tất cả các nhà lãnh đạo hồi đều bảo là mình hành động theo Mô-ha-mét. Ngày nay, những băng khủng bố của IS („Quốc Gia Hồi Giáo“) cũng hành động theo gương của vị giáo tổ họ: họ chặt đầu các tù nhân chiến tranh, đuổi những kẻ ngoại ra khỏi nhà cửa và nơi sinh cư của họ.

Nhưng dù khoác áo lãnh tụ chiến tranh, Mô-ha-mét một cách nào đó vẫn là một đứa trẻ. Ngài là một người mẫn cảm, không ai biết đến, bị ngược đãi, một người luôn thất vọng về thế giới. Dù là kẻ chăn cừu, thương gia, nhà thuyết giảng hay tướng chiến trận, ngài luôn vẫn trên đường đi tìm một chốn an thân mới. Chốn đó lúc là Khadischa (người vợ đầu của ông), lúc là các vần chữ trong Ko-ran, lúc là những tín hữu đàn ông, lúc là những người tình phụ nữ. Và quê hương cuối cùng của ngài là những bãi chiến trường.

Mô-ha-mét mất cách đây 1400 năm, nhưng ngài không bao giờ được chôn hẳn. Ngài để lại một tác phẩm lề luật, vẫn còn ảnh hưởng quyết định mãi tới ngày nay trên bất cứ mọi việc trong cuộc sống hàng ngày của tín hữu. Những quy định xã hội của ngài ở Méc-ca giúp an ủi và giải phóng con người. Những trận chiến của ngài thời ở Medina biện minh cho bạo lực. Ngài trao lại cho tín hữu mình những nét nhân nhân cách có thể gọi được là bệnh hoạn của mình: ảo tưởng cực quyền và cơn say vĩ cuồng, hoang tưởng và ám ảnh bị ngược đãi, thiếu khả năng chấp nhận phê bình và loạn thần kinh ám ảnh. Sự đánh giá tốt nhất của ngày nay đối với Ma-hô-mét có lẽ là nên coi ngài như một con người bình thường, một con người như ngài đã là, và cần chấm dứt việc tin vào sự toàn năng của ngài. Nói cách khác: Hãy chôn đi cái thần tượng nguy hiểm.

Một đứa trẻ ít được người khác quan tâm, sẽ làm gì? Một con người không được cộng đoàn của mình công nhận, sẽ ra sao? Người đó sẽ đi tìm sự công nhận của một cộng đoàn quan trọng hơn cộng đoàn nguyên thuỷ của mình. Một đứa trẻ con nhà tị nạn ở Dinslaken ngày nay mất liên lạc với cộng đoàn gốc thổ-nhĩ-kì của mình, cũng chẳng có liên lạc nào với cộng đồng gốc đức tại địa phương, và luôn cảm thấy bị o ép cách ngăn, hẳn nó sẽ tìm về một cộng đoàn tưởng tượng có tên Umma, nghĩa là một cộng đoàn của tất cả mọi kẻ tin. Qua các trang mạng và bên lể những những cộng đoàn hồi giáo, nó sẽ nhập vào những nhóm quá khích, vốn chỉ phản chiếu một phần rất nhỏ tấm thẻ căn cước của Hồi Giáo. Nó tự đồng hoá mình với nỗi đau và cảm giác bị đàn áp của tín đồ hồi giáo khắp nơi đâu đó trên thế giới. Nó sẽ rời bỏ thế giới đang làm nhục mình, tìm về Si-ri, để trở thành một thành phần của cái Umma không tưởng đó. Và rồi nó sẽ cầm dao cắt cổ những người ngoài tôn giáo với nó, và mơ một ngày thế nào cũng chiếm được nước Đức, để trả được mối hận.

(còn tiếp phần II)

Nhà Tiên Tri Nguy Hiểm (Phần I)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *