Giáo Dục Học Đường Dưới Thời Đệ I Cộng Hoà [1]

 

 

Trong buổi lễ nhậm chức thủ tướng tháng 7 năm 1954, ông Ngô Đình Diệm long trọng tuyên bố trước quốc dân: „Dân tộc việt nam đã bị lạm dụng từ lâu, nay đang tìm lối đi, tìm một đường lối chắc chắn dẫn họ đạt tới những lí tưởng nồng nhiệt khát khao từ lâu. Tôi cương quyết vạch đường lối ấy cho dân tộc, bất chấp mọi chông gai gian khổ[2].

Đường lối chắc chắn mà ông Diệm quyết vạch ra đó là chủ thuyết Cần Lao Nhân Vị, gọi tắt là Nhân Vị.

Nhân Vị nói tới ở đây là một hệ tư tưởng mang sắc thái việt nam, được ông Ngô Đình Nhu và các tham mưu của ông đề ra và dùng nó làm nền tảng cho đường lối cai trị quốc gia, trong đó dĩ nhiên cả cho chính sách giáo dục.

Sở dĩ tôi nói Nhân Vị thời Đệ I Cộng Hoà mang sắc thái việt nam, là vì nó chủ yếu được rút ra từ chữ Nhân của Khổng giáo, chứ không phải như nhiều người vẫn quả quyết: đó là sản phẩm sao chép từ thuyết Personalisme của các triết gia người Pháp. Chính ông Ngô Đình Nhu cũng xác nhận: Nhân Vị này không dính dáng gì cả tới thuyết của Emmanuel Mounier hay giáo lí của Thiên Chúa Giáo [3].

Nói tới Nhân Vị là nói tới phẩm giá (Nhân) và chỗ đứng (Vị) của con người trong vũ trụ và cuộc sống. Thuyết Nhân Vị xác tín rằng, con người là loài linh thiêng nhất giữa các tạo vật (linh ư vạn vật), nói khác đi, người là cái Đức hội tụ của Trời Đất (nhân giã kì thiên địa chi đức). Con người gồm thể xác và tâm linh. Thể xác phản chiếu Đất, tâm linh phản chiếu Trời nơi con người. Người là một trong ba yếu tố đồng vị của Tam Tài, thành phần nối kết giữa Trời và Đất. Trời che, Đất chở, Con Người hoàn thành. Như vậy, qua vai trò lao tác hoàn thành của mình, con người làm cho cái Đức của Trời Đất sáng ra, nghĩa là cùng góp phần với Trời Đất tác tạo vũ trụ. Vì thế, Nhân Vị thời Đệ Nhất Cộng Hoà được gọi là „Cần Lao Nhân Vị“.

Khi nhìn nhận giá trị của con người siêu việt như thế, thì mọi chính sách, trong đó có giáo dục, đều trước hết phải lấy con người làm gốc, phải nhắm tới sự thăng tiến toàn diện của con người cá nhân. Thăng tiến toàn diện có nghĩa là cá nhân đó có được trưởng thành trong ba chiều kích hay tương quan: với chính mình (í thức được độc lập, tự do và trách nhiệm đối với chính mình), với cộng đồng (trách nhiệm đối với gia đình, xã hội, quốc gia), với siêu nhiên (để đạt tới Chân Thiện Mĩ). Chủ trương Nhân Vị và mục tiêu thăng tiến toàn diện được long trọng ghi nơi lời mở đầu của Hiến Pháp Đệ I Cộng Hoà.

Thuyết Nhân Vị không coi con người là một chủ thể tiêu thụ, như nền kinh tế tư bản vẫn quan niệm. Nó cũng không coi con người cá nhân chỉ là một công cụ sản xuất hoàn toàn nô lệ cho tập thể, như Cộng Sản vốn chủ trương. CS không công nhận con người cá nhân, coi nó chỉ là một bộ phận trong bộ máy sản suất lớn của xã hội.

Đấy là điểm khác biệt của Nhân Vị so với Tư Bản và Cộng Sản. Nền tảng khác biệt này rồi đây sẽ cho ta thấy những khác biệt về mục đích và nền tảng giáo dục giữa ba chủ thuyết này.

Bài tham luận này không đi vào chi tiết cụ thể về mặt tổ chức và thực hiện của hệ thống giáo dục học đường thời Đệ I Cộng Hoà. Chẳng hạn, hệ thống trường ốc thời đó được tổ chức như thế nào? Thi cử ra sao? Giáo khoa như thế nào? Phương pháp dạy ra sao? Nhịp độ phát triển của trường công và tư với sĩ số học sinh sinh viên ra sao? Chính sách tự trị đại học, đào tạo giáo viên, nghiên cứu khoa học được tiến hành như thế nào v.v…? [4]

Những chi tiết này chỉ là phần hình thức – „phần Xác“ – của một nền giáo dục. Chúng là những mặt biểu hiện ra bên ngoài của cái động lực chủ đạo hình thành nên nền giáo dục đó. Ta gọi động lực chủ đạo này là „Hồn“ của nền giáo dục.

Vì vậy, ở đây hôm nay, tôi mời quý vị và các bạn chúng ta cùng tìm hiểu về cái Hồn của nền giáo dục thời Đệ I Cộng Hoà. Nói cách khác, chúng ta sẽ trả lời câu hỏi: Đâu là nét độc đáo của nền giáo dục này và nó biểu hiện ra như thế nào?

Để giúp nhận diện điểm này, chúng ta hãy so sánh nền giáo dục trong các thời kì cận đại và hiện đại tại Việt Nam qua bảng dưới đây (Bảng).

 

 

Quân Chủ

Trước 1919

Pháp thuộc

1919 – 1954

Cộng Hoà

1955 – 1975

Cộng Sản

Từ 1975

Chuyển ngữ Hán Pháp /Việt Việt Việt
Việc mở trường Tự do Hạn chế Tự do Không tự do
Loại trường Tư / Công Tư / Công Tư / công Công
Mức độ phổ thông Hạn chế Hạn chế Phổ thông Phổ thông và hạn chế
Hệ giáo dục 2 cấp:
Phổ thông và Cao đẳng
3 cấp:
hệ 13 năm (Tiểu 6, Trung 7, Đại học)
3 cấp:
Hệ 12 năm
3 cấp:
Hệ 12 năm
 
Mục tiêu giáo dục Làm Quan
(thành nhân)
Thừa hành
(thành công)
Công dân
(con người toàn diện)
„Con người mới xhcn“
(công cụ)
Nền tảng giáo dục Đức Trí – Nhân bản
– Khai phóng
– Dân tộc
Hồng
(í thức hệ)

 

[Việc phân chia ra thời Quân Chủ và Bảo Hộ chỉ mang tính cách tương đối, bởi vì cho tới năm 1945 Việt Nam bị chia thành ba miền với ba chính sách cai trị khác nhau: Miền Nam là đất thuộc địa từ 1864, hoàn toàn do Pháp cai trị. Miền Trung tuy vẫn thuộc quyền Nhà Nguyễn của Việt Nam, nhưng dưới sự cố vấn của Pháp. Miền Bắc là đất bảo hộ, nghĩa là do Pháp cai trị nhân danh Vua VN.

Năm 1919 là năm mở kì thi Hội cuối cùng, đó cũng là thời điểm chính thức chấm dứt nền Hán học tại Việt Nam kéo dài 900 năm.

Trên danh nghĩa, Việt Nam đã có độc lập từ 1945, nhưng từ đó cho tới 1954 lại rơi vào tình trạng chiến tranh, nên đã chẳng có thay đổi lớn nào về mặt giáo dục.

Thời Cộng Hoà ở đây muốn nói tới cả Đệ I (1955-1963) và Đệ II Cộng Hoà (1963-1975), bởi vì nền tảng giáo dục của Đệ II Cộng Hoà cũng chỉ là sự tiếp nối các yếu tố đã có từ Đệ I Cộng Hoà, nên có thể gộp cả hai giai đoạn này vào làm một].

5 mục đầu thuộc phần Xác, có thể kê ra thêm các yếu tố khác nữa vào phần này. Còn 2 mục dưới là Hồn của định chế giáo dục.

Mọi định chế (tổ chức) xã hội đều có một phận vụ (mục đích). Phận vụ xác định sự tồn tại và cơ cấu tổ chức của định chế. Để lập một xí nghiệp, trước hết người ta phải xác định mục đích của xí nghiệp là gì, sản xuất gì. Từ đó chọn vật liệu và phương án thích hợp để thực hiện mục đích đó. Định chế giáo dục cũng vậy. Câu hỏi đầu tiên đặt ra cho một chính sách giáo dục là mình sẽ cung cấp cho đời loại người như thế nào, và để có mẫu người đó phải dùng những chất liệu đào tạo nào? Chữ Education (ducere, tiếng La-tinh: dẫn về một mục tiêu nào đó) hay Erziehung (Ziehen) nói lên í nghĩa đó.

Câu hỏi về mục tiêu và nền tảng giáo dục này cũng được gọi là Triết Lí Giáo Dục. Triết lí giáo dục, xem như thế, là điều đương nhiên phải đặt được ra. Nhưng, khi nhìn lại suốt dòng lịch sử giáo dục tại Việt Nam, ta thấy chỉ có Việt Nam Cộng Hoà, đặc biệt Đệ I Cộng Hoà, là đặc biệt quan tâm tới nó mà thôi [5].

Trước sự bế tắc vô phương cứu chữa của nền giáo dục hiện nay, nhiều người cho rằng, lí do là vì nhà nước cộng sản đã không có một Triết Lí Giáo Dục. Mới đây, ông Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thư đảng cộng sản tại Việt Nam, cũng tát nước theo mưa: Sở dĩ đã bao lần cải tổ giáo dục đều thất bại là vì đảng và nhà nước của ông không có Triết Lí Giáo Dục. Nói như thế là để tìm cách chạy tội cho chủ trương giáo dục khốn nạn của đảng ông mà thôi, chứ có thứ chính sách nào mà lại không dựa trên một nền tảng và mục tiêu nào đó.

 

Hồn của định chế giáo dục

 

Thời quân chủ chỉ chú trọng tới việc tổ chức các kì thi để kiếm người ra làm Quan phục vụ vương triều mà thôi, còn việc giáo dục các cấp thì thả mặc. Để có được những ông Quan tận trung với vua, nền giáo dục nho giáo đặt nặng chữ Đức. Đích nhắm của nền giáo dục này là mẫu người Quân Tử, nghĩa là những vị quan đức độ, biết lấy tam cương ngũ thường làm căn bản cho cuộc sống và hành động. Dĩ nhiên, nền Khổng học thời nhà Nguyễn, đặc biệt trong thời Pháp thuộc, đã không còn cái nét đẹp ban đầu của nó nữa. Nho học kể từ thời nhà Tống bên Tàu (thế kỉ 11) đã bị lạm dụng và xuyên tạc cho quyền hành chuyên chế của vua chúa. Nho học ban đầu chủ trương dân trọng hơn vua (dân vi quý, quân vi khinh), Tống Nho chuyển thành ngược lại. Nho học ban đầu dạy tận trung với Nước, tận hiếu với Dân. Tống Nho bẻ cong thành trung quân ái quốc (trung thành với vua là yêu nước); khẩu hiệu này đã được cộng sản sao lại thành:Trung với đảng hiếu với dân hay Yêu nước là yêu xã hội chủ nghĩa! Dưới thời Pháp thuộc, nền tảng đức dục của Nho học lại bị lung lay thêm nữa bởi chính sách cai trị cũng như bởi các giá trị thực dụng do người Pháp mang vào. Tuy nhiên nói chung, giáo dục nho học trước sau vẫn coi trọng chữ Đức.

 

Trong thời Pháp thuộc, mục tiêu giáo dục chú trọng tới việc đào tạo một lớp người bản xứ giúp việc cho guồng máy cai trị, cụ thể qua trường Thông Ngôn ở Nam kì (1905) và các trường Hậu Bổ (đào tạo quan) ở Bắc kì (1903) và Trung kì (1911). Pháp chỉ cung cấp cho họ một ít khả năng Quốc ngữ, một ít Pháp ngữ và một ít kiến thức chuyên môn vừa đủ để có thể thừa hành công việc mà thôi. Vì thế, giáo dục thời này rất hạn chế về trường ốc lẫn nội dung. Cả nước chỉ có được ba trường trung học ở Mĩ Tho, Sài Gòn, Hà Nội có tới cấp tú tài cho người bản xứ. Người ta chỉ quan tâm việc cung cấp kiến thức thực dụng (Trí dục), còn Đức dục hoàn toàn không được nhà nước bảo hộ đoái hoài.

Nền giáo dục cộng sản tuy không hạn chế như dưới thới quân chủ và pháp thuộc, nhưng thực chất cũng chẳng khác gì so với hai thời kì kia. Mục tiêu của nó là để sản xuất một mẫu người gọi là „con người mới xã hội chủ nghĩa“. Con người mới xhcn là mẫu người nhắm mắt tin tưởng vào chủ nghĩa và sẵn sàng làm công cụ phục vụ cho chủ nghĩa. Để có loại người này, các nhà nước cộng sản đặt trọng tâm nơi việc nhồi nhét í thức hệ, từ các cháu nhi đồng cho tới sinh viên đại học. Đối với cộng sản, Hồng (nhồi nhét í thức hệ) quý hơn Chuyên (đào tạo văn hoá kĩ thuật). Hồng là yếu tố quyết định. Còn Chuyên dù có mở rộng cũng nhằm để phục vụ cho đảng và nhà nước của nó. Nhân danh tính ưu việt của í thức hệ cộng sản, họ huỷ diệt mọi cội rễ văn hoá dân tộc. Nhân danh nền đạo đức xhcn, họ phá nát mọi căn bản đạo đức truyền thống. Nhân danh xã hội vô giai cấp, họ chặt đứt mọi giềng mối nền tảng nơi gia đình, thân tộc, xã hội và tôn giáo.

Mô hình xã hội chủ nghĩa ra sao, chưa ai biết. Qua thú nhận của tổng bí thư cộng đảng Nguyễn Phú Trọng, cho đến hết thế kỉ này cũng chưa chắc có được mô hình đó! Còn mẫu „người mới xhcn“ thì ai ai cũng đã thấy. Đó là những thế hệ người Việt dối trá, lừa đảo, vật chất, vô cảm, thiếu í thức công, thà mất nước còn hơn mất mất đảng!

Mục tiêu giáo dục của của Đệ I Cộng Hoà nhắm tới việc đào tạo Công Dân với í thức độc lập, tự do và trách nhiệm để cùng chung tay phát triển Đất Nước và xây dựng Dân Chủ. Để có được những công dân tự do, độc lập và trách nhiệm như thế, nền tảng giáo dục phải như thế nào?

Năm 1958, chính phủ triệu tập một Đại Hội Giáo Dục gồm đại diện nhiều thành phần xã hội để cùng nhau đề ra một triết lý giáo dục cho miền Nam. Đại Hội đã chọn ba nguyên tắc Nhân Bản, Dân TộcKhai Phóng làm nền tảng cho nền giáo dục.

Nhân Bản là lấy con người làm gốc, lấy cuộc sống của con người làm căn bản, không xem con người như một phương tiện hay công cụ phục vụ cho mục tiêu của cá nhân, đảng hay tổ chức nào. Mọi người dù khác nhau, nhưng đều có quyền được hưởng những cơ hội đồng đều để thăng tiến qua giáo dục. Hiến Pháp 1958 ghi cụ thể: „Mọi người dân có quyền theo đuổi học vấn. Những người có khả năng mà không có phương tiện riêng sẽ được nâng đỡ để theo đuổi học vấn“. Vì con người có giá trị như nhau, nên không có chuyện kì thị theo lí lịch hay phân biệt đối xử vì khác biệt tư tưởng chính trị, thành phần xã hội, địa phương, tôn giáo, chủng tộc… Nền giáo dục nhân bản nhắm tới sự phát triển toàn diện con người cá nhân, vì thế Trí dục, Đức dục và Thể dục được nhà trường Đệ I Cộng Hoà quan tâm đồng đều.

Nhưng con người nhân bản không phải là những ốc đảo, mà họ sống trong những cộng đồng từ nhỏ là gia đình đến làng xã tới quốc gia dân tộc. Mỗi Dân Tộc đều có những kinh nghiệm quá khứ chung để chia sẻ và một dự phóng tương lai chung để theo đuổi. Họ có những kinh nghiệm chung để soi chiếu, những giá trị chung để đồng hành, những truyền thống chung để gắn bó. Nguyên tắc Dân Tộc trong giáo dục là làm sao để mỗi người công dân biết tôn trọng, giữ gìn và phát huy những kinh nghiệm, giá trị và truyền thống tốt đẹp đó, để cùng gắn bó với Đất Nước. Cộng sản chủ trương xoá sạch tất cả để làm lại, đó không phải là cái ngu, mà là một tội ác đối với Dân Tộc, như Tùng Phong (Ngô Đình Nhu) đã nhận định cách đây hơn 50 năm: „Không có một hành động nào sát hại một dân tộc bằng hành động quét sạch tàn tích trước để xây dựng tương lai, vì như thế có nghĩa là không bao giờ chúng ta xây dựng được một kho tàng kinh nghiệm để làm hậu thuẫn cho sự lãnh đạo quốc gia[6]. Vì thế, từ Tiểu cho tới Trung Học thời Đệ I Cộng Hoà đều được dạy môn Công Dân Giáo Dục với những bài học về tổ chức xã hội và quốc gia, về phong tục, về bổn phận của cá nhân với gia đình, xã hội và tôn giáo, về bổn phận của học sinh với nhà trường, về quyền và trách nhiệm của người dân đối với Tổ Quốc.

Song song với Dân Tộc là nguyên tắc Khai Phóng. Nguyên tắc Dân Tộc chủ trương lấy tinh thần dân tộc làm gốc. Nhưng gốc này không trụ một chỗ và khép kín, mà mở ra với thế giới, sẵn sàng đón nhận những tinh hoa văn hóa và văn minh của nhân loại, để góp phần hiện đại hoá quốc gia, tiến bộ hoá xã hội. Cụ thể là mở ra để tiếp nhận tinh thần dân chủ, nếp sống văn minh, nền khoa học kĩ thuật của phương tây. Về việc học hỏi kĩ thuật tân tiến của phương tây, ông Ngô Đình Nhu, trong tác phẩm đã dẫn, khuyên người Việt chúng ta: không những học làm theo người tây phương, nghĩa là học lấy kiến thức kĩ thuật và phương pháp chế tạo của họ, mà trên tất cả, cần phải học làm như họ, nghĩa là làm sao có được khả năng sáng tạo như họ. Muốn thế, phải học tập việc suy nghĩ chính xác và khả năng tổ chức đâu vào đó của họ. Theo ông, hai điểm này là nguồn xuất phát mọi sáng tạo và phát minh kĩ thuật, bởi vì „kĩ thuật tây phương là một lề lối đến với (đặt)vấn đề, tìm hiểu vấn đề, giải quyết vấn đề và tổ chức vấn đề, mà tinh thần chính xác của văn minh tây phương đã sáng tạo[7].

Chúng ta vừa lược qua một số tiêu biểu của nền giáo dục qua các thời đại, đặc biệt tìm hiểu triết lí giáo dục thời Đệ I Cộng Hoà. Tại sao triết lí giáo dục của Đệ I Cộng Hoà lại như thế và của các chế độ khác lại như thế?

Tất cả chung quy là do nơi quan niệm về con người.

Quân Chủ coi dân là vật sở hữu của Vua. Vật sở hữu thì chỉ để sử dụng, chứ chẳng có quyền gì. Hay nói như hai nhà cách mạng họ Phan, Quân Chủ coi dân là cỏ rác, nên chẳng đáng quan tâm.

Thực dân coi người bản xứ là nô lệ, không cần giáo dục.

Cộng Sản coi con người chỉ là công cụ sản xuất phục vụ cho đảng và chế độ, có thể loại bỏ khi cùn mòn hay không còn thích hợp với quyền lợi của đảng.

Mục tiêu của cả ba loại chế độ trên là chiếm và giữ quyền. Nên chúng chủ trương bịt mắt và giam hãm người dân trong ngu dốt và sợ hãi để dễ cai trị.

Chính thể nhân vị coi trọng con người, muốn họ trở thành những Công Dân toàn diện để chung tay xây dựng nền Dân Chủ. Và đấy là nét độc đáo cao cả của nền giáo dục thời Đệ I Cộng Hoà.

Phạm Hồng-Lam

Augsburg, ngày 25.07.2014

[1] Bài nói chuyện tại Frankfurt/M, Đức quốc, nhân lễ giỗ lần thứ 51 cố tổng thống Ngô Đình Diệm

[2] Xem Nguyễn Ngọc Tấn, Chủ nghĩa Nhân Vị. Con Đường Mới, Con Đường Của Tiến Bộ, in trong „Cuộc Cách Mạng Nhân Vị Chưa Hoàn Tất“, Đặc san 2007, Hội Người Việt Quốc Gia Việt Nam, CA, Hoa-kì. Bản tiếng Anh trong Đặc San 2008.

[3] Nguyễn Ngọc Tấn, như trên, tr. 147/8.

[4] Có thể xem Giáo Dục Việt Nam Cọng Hoàhttp://vi.wikipedia.org/wiki/Gi%C3% A1o_d%E 1%BB%A5c_Vi%E 1%BB%87t_Nam_C% E1%BB%99ng_h%C3%B2a..

[5] Xem thêm Giáp Văn Dương, Gọi Tên Triết Lí Giáo Dục:  http://www.thesaigontimes.vn /114544/Goi-ten-triet-ly-giao-duc.html

[6] Tùng Phong, „Chính Đề Việt Nam“, Sài Gòn-Việt Nam 1964, in lại tại Hoa-kì 2009,  tr. 190.

[7] Tùng Phong, sđd, tr. 319.

Nền Giáo Dục Học Đường Dưới Thời Đệ I Cộng Hoà

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *