Một Trái Đất Bị Biến Dạng

Ottmar Edenhofer (Die Zeit 25.06.2015).

Giáo Tông Phan-sinh nói: Bạo lực phá huỷ thiên nhiên cũng là bạo lực chống lại con người. Chúng ta chỉ chấm dứt được nó, khi chúng ta biết bảo vệ những của cải chung.

 

Giáo Tông Phan-sinh đã cho phổ biến Tông Thư „xanh“ của mình, một thông điệp vốn được thiên hạ chờ đợi từ lâu. Nhưng đây không phải là một „Tông Thư về Môi Sinh“. Đúng hơn, nó là một thông điệp về Công Lí. Là vì bên cạnh việc mô tả chuyện con người làm biến đổi khí hậu, ngài còn đề cập tới nạn nghèo đói và bất công như là một thách đố đạo đức bản lề trong thế kỉ 21. Bởi vì nạn nhân chính của biến đổi khí hậu là giới người nghèo và biến đổi này càng ngày càng đào sâu hố ngăn cách xã hội trong cộng đồng thế giới.

Giáo Tông có lí, khi bảo rằng, hành tinh chúng ta đang sống không còn chịu đựng hơn nữa mức tiêu thụ quá mứa hiện nay của các nước giàu, và sự biến đổi khí hậu đã ảnh hưởng lên giới người nghèo từ lâu rồi. Nhưng theo ngài, vẫn còn kịp để tránh được những hậu quả thê thảm nhất. Muốn vậy, thế giới cần phải đưa vào luật quốc tế câu cách mạng sau đây trong Tông Thư: „Khí hậu là một tài sản chung của mọi người và cho mọi người“.

Với câu này, lần đầu tiên học thuyết xã hội của Giáo Hội công giáo được áp dụng cho việc sử dụng bầu khí quyển, các đại dương và núi rừng. Giáo Tông nói: Mọi người có quyền hưởng các tài sản chung. Những tài sản này phải đựơc phân phối theo các nguyên tắc công bằng. Đồng thời việc sử dụng than, dầu và khí đốt phải dựa trên một sự lương thiện, vốn cũng được gọi là „bổn phận xã hội của quyền tư hữu“. Nói cách cụ thể: Muốn có một chính sách khí hậu hữu hiệu, phải làm sao ngăn chận việc tiếp tục sử dụng bầu khí quyển theo luật của kẻ mạnh như hiện đang xẩy ra.

Nhưng việc giảm thiểu lượng khí thải lại tạo ra những xung đột mới về phân phối: Khi buộc phải hạn chế khai thác một phần lớn các trữ lượng tài nguyên trong lòng đất để bảo vệ khí hậu, thì chính sách này cũng đồng nghĩa với việc hạ giá tài sản của những chủ nhân các mỏ than, dầu và khí đốt. Để giải quyết vấn đề này, Tông Thư đưa ra một quan điểm rất thuyết phục: Quyền tư hữu chỉ chính đáng về mặt đạo đức, khi nó phục vụ cho công ích. Là vì khả năng hấp thụ thán khí (cạc-bon) của bầu khí quyển và của đại dương có hạn. Nếu muốn tránh được sự biến đổi khí hậu tới mức nguy hiểm và không để cho nhiệt độ địa cầu gia tăng quá 2 độ so với mức thời tiền kĩ nghệ, ta phải để lại trong lòng đất đến 70% lượng than hữu dụng về mặt kinh tế, 30% lượng khí và 30% lượng dầu hoả. Nhưng chỉ sử dụng một lượng còn lại như thế thôi cũng đòi hỏi ta phải có những bãi chứa thán khí dưới lòng đất.

Vì những khó khăn này, các quốc gia thế giới tới nay vẫn chưa chịu công nhận bầu khí quyển là tài sản chung của nhân loại. Vì nếu công nhận, họ sẽ phải chấp hành những trói buộc do luật pháp quốc tế xuất phát từ đó. Và như thế, toàn thể nhân loại sẽ phải í thức sử dụng môi sinh như một người quản lí có trách nhiệm.

Giáo Tông Phan-sinh tin chắc đó là điều khả thi. Tông Thư của ngài nhấn mạnh, hoạt động kinh tế của ta chỉ đúng đắn về mặt đạo đức, khi qua giá cả chúng ta cũng biết được mức độ có hạn của những tài sản quan trọng. Bầu khí quyển cũng là một bãi chứa có hạn. Điều này cần phải nhắc nhở cho giới tiêu thụ biết, và cả giới sản xuất lẫn các ngân hàng cũng phải biết điều đó. Có như vậy, mọi người mới thấy được nên chuyển các đầu tư của mình vào chỗ nào có lợi hơn. Nhiều nghiên cứu khác nhau của Viện Nghiên Cứu Mercator Về Tài Nguyên Địa Cầu Và Biến Đổi Khí Hậu (MCC) cho thấy, có thể sử dụng tiền đánh vào khí thải (CO2) để giúp người nghèo có được nước sạch, hệ thống vệ sinh và điện sạch. Ấn-độ là một thí dụ: Nếu chính phủ nước này đánh thuế mỗi tấn khi thải $10,-, thì số tiền sẽ đủ cho họ mỗi năm giúp cho 60 triệu dân có thêm điện, nước uống, hệ thống vệ sinh và chi phí truyền thông. Đối với Trung-hoa hay Mễ-tây-cơ cũng thế. Thuế khí thải có thể giải quyết đựơc nạn nghèo đói. Trong bước đầu, ít nhất cần chấm dứt mọi khoản bao cấp cho việc khai thác các nguồn năng lượng dưới lòng đất (than, dầu hoả, khí); chỉ biện pháp này thôi cũng có đựơc 548 tỉ mĩ-kim cho người nghèo.

Tông Thư chống lại tiến bộ? Không. Nó đánh giá tích cực Kĩ Thuật, nhưng đồng thời nhắc nhở con người không nên nhắm mắt đặt hết tin tưởng vào Kĩ Thuật. Kĩ thuật tân tiến mở rộng khả năng làm chủ của con người, nhưng đồng thời cũng mở rộng trách nhiệm của họ. Hành động của ta sẽ thiếu trách nhiệm, khi ta bằng mọi cách dùng Kĩ Thuật để nhất mực gia tăng kinh tế và kiếm lãi. Trái lại, chúng ta hành động có í thức, khi dùng sự gia tăng khả năng làm chủ của mình để mở rộng tầm quyết định.

Có người cho rằng, thư của Giáo Tông chẳng ảnh hưởng gì nơi các nhà hoạch định chính trị. Nhưng lịch sử cho thấy, những lí chứng đạo đức thường mở ra sức mạnh chính trị. Gio-an Phao-lô II hỗ trợ Công Đoàn Đoàn Kết, và nhờ đó đã góp phần giật sập bức tường Bá-linh. Phan-sinh muốn trở thành vị Giáo Tông đầu tiên trong thời hiện đại mở ra cuộc đối thoại với cộng đồng dân sự thế giới. Bởi vì ngài không tin rằng, một mình các chính trị gia có thể giải quyết được vấn đề. Ở đây ngài không đơn giản khuyến khích sự chống đối dân sự, nhưng ưu tiên nghĩ đến ảnh hưởng của giới tiêu thụ và các nhà đầu tư trên các thị trường.

Giáo Tông hầu như chẳng đưa ra đề nghị biện pháp chính trị cụ thể nào. Nhưng đây không phải là điểm yếu, mà trái lại là cái mạnh của Tông Thư. Ngài coi trọng khả năng và tự do lương tâm của mọi con người thiện chí; ngài tin tưởng vào óc sáng kiến và quyết tâm hành động của họ. Ngài không muốn ra lệnh, nhưng muốn thúc đẩy đi tới một cuộc đối thoại vốn mang lại nhiều ơn ích hơn là những tranh cãi về quyền lợi. Vì thế Tông Thư này đặt nặng tính chất khoa học hơn mọi Tông Thư từ trước tới nay. Nó bảo vệ thẩm quyền từng lãnh vực riêng như tôn giáo, chính trị, kinh tế và khoa học, nhưng đồng thời cũng nêu lên rõ ràng những nan đề đạo đức. Về điểm này, Tông Thư đã đưa ra nhiều hình ảnh kinh thánh về tạo dựng, sa ngã, giải thoát và viên mãn để soi chiếu. Các hình ảnh này cho ta thấy, một bộ mặt dị dạng của trái đất không những nói lên quan hệ đổ gãy giữa Thiên Chúa và con người, mà còn cho thấy bạo lực giữa con người với nhau.

Như vậy phải làm gì bây giờ? Giáo Tông không nhìn lịch sử như một thảm kịch, song như một bi kịch. Trong bi kịch cứu rỗi này, con người luôn có khả năng đứng dậy, chứ không bị dìm trong thất bại. Phan-sinh nhắc nhở độc giả, rằng Thiên Chúa muốn hoàn thành con người và rằng lí trí thời nay phải biết nhận ra sự bao quát muôn mặt của thực tại, mới mong giải quyết được vấn đề. Chỉ khi khoa học nối được với í nghĩa của thế giới, lúc đó mới có chỗ cho Tự Do. Có Tự Do, thì mới có dấn thân cho Công Lí.

 

Ottmar Edenhofer, 53 tuổi, là cựu tu sĩ dòng Tên và giám đốc của KCC. Ngoài ra, ông cũng là trưởng nhóm kinh tế gia thụôc Viện Potsdam Nghiên Cứu Các Hậu Quả Của Khí Hậu. Vatican đã nhiều lần tham vấn Viện này trong việc hình thành Tông Thư.

 

 

Về Tông Thư Mới Nhất Của Giáo Tông Phan-sinh

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *