Nhận Diện Con Người Việt Nam Qua Ngôn Ngữ.

Bài II. Văn Hoá „Xin“.

 

 

Để hiểu một dân tộc, cần biết lối tư duy của dân tộc đó.
Muốn biết cách suy tư của họ, cứ xét ngôn ngữ họ dùng.
Cách diễn tả trong ngôn ngữ phản ảnh bản chất của một dân tộc.

 

Trong sách Duy Văn Sử Quan (1990, trang 153) Hoàng Văn Chí kể: Hồi Phan Bội Châu mới sang Tàu để tìm cách mở phong trào Đông Du, một nhân sĩ trung-hoa là Dương Giác Đôn đưa ông tới yết kiến Trang Uẩn Khoan, viên đại thần của triều đình Mãn Thanh. Vị đại thần tiếp đãi rất tử tế và có biếu một món tiền trợ cấp. Khi Phan ra về, Trang Uẩn Khoan bảo Dương Giác Đôn: Người An-nam có bản tính nô lệ, dù có vài chí sĩ như ông này (Phan Bội Châu) thì cũng chẳng làm nên trò trống gì.

Tác giả kể tiếp: Năm 1912, Tôn Văn viếng thăm Nhật-bản và được chính khách nhật là Khuyển Dưỡng Nghị (Inukai Tsuyoshi) khoản đãi. Sau bữa tiệc, Khuyển bất thần hỏi Tôn: Tôi được biết tôn sinh có dịp qua Hà Nội, xin tôn sinh cho biết tôn í về dân tộc an-nam. Bị hỏi đột ngột, Tôn chỉ kịp nhớ câu nói của Trang Uẩn Khoan trước đây, đáp: Người An-nam vốn nô lệ căn tính. Ngày xưa họ bị người Hán chúng tôi đô hộ, ngày nay họ bị người Pháp cai trị. Dân tộc ấy quả không có tương lai!

Có lẽ nhiều người Việt sẽ phẫn nộ, khi nghe mấy „ [Cái] thằng Tàu“ ăn nói như thế!

Sau khi gặp Tôn, Khuyển Dưỡng Nghị cho gọi một số du sinh người Việt (do Phan Bội Châu đưa sang Nhật) tới và kể rằng, ông đã đáp lại câu nhận định của Tôn như sau: „Điểm này, tôi không đồng í với tiên sinh. Ngày nay họ (người Việt) thua người Pháp, vì họ không có khí giới tối tân. Nhưng cứ xét lịch sử, thì trong số Bách Việt chỉ có họ là không bị Hán hoá. Tôi tin rằng, một dân tộc biết tự bảo vệ một cách bền bỉ, thì thế nào sớm muộn họ cũng sẽ lấy lại được quyền tự chủ“. Tôn Văn mắc cở, vì biết Khuyển muốn chơi mình: Tôn là người Quảng-đông, có tổ tiên là dân Á-khách (Hakka), một trong số Bách Việt, dân này đã bị Hán hoá. Câu chuyện trên đây được Lê Dư, một trong những du sinh có mặt thời đó, kể lại cho con rể mình là Hoàng Văn Chí và họ Hoàng đã thuật lại.

 

Cho tới nay, chúng ta cứ ăn mày quá khứ về chuyện mình đã giành lại được độc lập sau 1000 năm Bắc thuộc và gần 100 năm Pháp thuộc, để biện minh cho tính cách anh hùng của dân tộc mình.

Nhưng nếu nhìn lịch sử từ hai trăm năm trở lại thì quả có một sự thật khó có thể chối cãi: Người Việt có đầu óc nô lệ và vọng ngoại. Cứ xem tinh thần nô lệ Đại Hán của vua quan thời nhà Nguyễn. Cứ xem tinh thần tay sai người Mĩ tự nguyện của một số tướng lãnh miền nam Việt Nam trong vụ thanh toán nền Đệ I Cộng Hoà. Cứ xem bản chất nô thuộc Nga Tàu của cộng sản việt nam hiện nay. Đành rằng sự nô thuộc thời nhà Nguyễn và tay sai nơi một số tướng lãnh miền Nam chưa đến mức sẵn sàng dâng giang sơn và chủ quyền dân tộc cho ngoại nhân, để mong được bám quyền thu lợi như đảng cộng sản việt hiện nay.

Và ai có thể phản bác điều này: Người Việt – cả đời lẫn đạo – hễ đứng trước những người Âu Mĩ da trắng thì rụt rè như gà phải cáo. Nhưng với người da đen da đỏ, nhất là đồng bào da nhợt nhạt mình thì lại khinh thường, chẳng coi ra gì cả. Mình khinh mình, phải chăng vì con người Việt vốn là thứ không đáng tin đáng trọng? Đã là „quốc gia“ thì không đội trời chung với „cộng sản“. Đã là „cộng sản“ thì phải diệt cho bằng sạch „quốc gia“. Đã là „công giáo“ thì phải là thứ phản dân tộc?

Thật nguy hiểm cho cái lối tư duy quá khích (Con-Cái / Động-Tĩnh) của người mình. Vậy mà đâu đâu người ta cũng kháo nhau rằng, người Việt dễ thích ứng, dễ hội nhập! Thích ứng thật, hay đó „chỉ là tính khôn vặt, khôn lỏi, giả vờ phục tùng để tồn tại, nhưng bên trong đang tính toán sao cho có lợi nhất cho mình“, như quan điểm của ông Hà Sĩ Phu?

Hay người Việt khinh nhau vì vốn bản chất vọng ngoại?

Mà ai dám bảo, người Việt chúng ta không vọng ngoại? – Mĩ nó đã tính cả rồi! – Đợi xem thằng Pháp nó muốn gì! – Ta thì có thể lầm, nhưng bác Mao bác Xì-ta-lin thì lầm sao được!

Như vậy, bản chất nộ lệ và vọng ngoại là điều không thể chối cãi, đặc biệt nơi các thành phần học thức trong xã hội việt.

Vấn đề là chúng từ đâu ra?

 

Nguồn gốc của tinh thần nô thuộc.

 

Chúng ta dễ rơi vào nô thuộc là vì người Việt, tự bản chất, thiếu cá tính mạnh, thiếu óc tự lập. Mà do đâu chúng ta thiếu cá tính mạnh, thiếu đầu óc tự lập?

Có cha mẹ nào ở hải ngoại đã không một lần thốt ra: Sao trẻ con người bản xứ tự tin đến thế, mà con mình thì lại quá rụt rè, thụ động như thế! Và họ thường đi tới kết luận: giáo dục của mình sai. Các nhà hàn lâm thì lại bắt mạch: tất cả là do ảnh hưởng của Khổng Giáo! Luân lí khổng giáo với những dây thòng lọng „tam cương“ (cho đàn ông), „tam tòng“ (cho đàn bà), „hiếu đễ“ (cho con cái)… đã trói con người Việt trong ách lễ giáo, ngăn cản sự phát triển nhân cách con người.

Ở đây, ra ngoài đề một chút. Trong cuộc luận bàn „thoát Trung“ lâu nay trên mạng, có tác giả đưa ra luận đề: „thoát Trung“ về mặt chính trị là nên, nhưng không thể và không nên „thoát Khổng“, vì, dù sao, Khổng Giáo đã tạo cho chúng ta một xã hội ổn cố tốt đẹp trải qua cả ngàn năm! Tôi không đồng í luận điểm này. Nếu không có Khổng Giáo, hẳn chúng ta đã có một trật tự xã hội khác, và trật tự này chưa hẳn kém hơn, hay có khi lại còn tốt hơn xã hội khổng giáo. Nên nhớ, dân tộc ta tháo gỡ được ách Hán thuộc, để thu hồi độc lập vào thế kỉ thứ 10, khi trật tự khổng giáo chưa được thiết lập trên đất nước. Và văn minh đại-việt đi vào thoái trào, sau khi Khổng Giáo nắm được vị thế độc tôn trong xã hội việt.

Tắt lại, lối giáo dục gia đình và học đường của mình trước đây và hiện nay bên nhà chắc chắn có ảnh hưởng lên cá tính mỗi người. Nhưng đó cũng chỉ là một yếu tố ảnh hưởng mà thôi.

Theo tôi, cái gốc của thiếu tự tin và thiếu độc lập có nhiều nguyên do khác quan trọng hơn.

 

Nguyên do thứ nhất: Màng lưới xã hội.

 

Trong màng lưới này, các ràng buộc thân tộc và làng xã mang tầm quan trọng.

Hãy nhìn vào hệ thống thân tộc. Con người việt nam sinh ra và lớn lên trong một cấu trúc thân tộc phức tạp và chặt chẽ và bị trói chặt trong màng lưới đó. Cấu trúc này thể hiện qua một hệ thống danh xưng thân tộc vô cùng rắc rối. Có lẽ không dân tộc nào giàu danh xưng thân tộc như dân tộc việt nam. Vòng thân tộc của Âu Mĩ chỉ có Ông-Bà (nội ngoại), Cha-Mẹ, Chú-Cô, Anh-Chị-Em, Dâu-Rể, Cháu (trai gái), Họ-hàng nói chung (Cousin). Trong khi cấu trúc thân tộc của ta thì ôi thôi rắc rối. Nó gồm nhiều hệ thống hợp lại, trong đó có hai hệ thống lớn (Nội và Ngoại) với những phân cấp tinh tế (Nội có Bác, Chú, Cô, O; Ngoại có Cậu, Dì, Mự, Dượng) mang lực ép khác nhau trên cá nhân (Nội áp lực mạnh hơn Ngoại). Ở hệ thống Con Cái thì có Anh, Chị, Em được phân cấp tuỳ theo tuổi tác và quan hệ (con của Cô Chú, dù lớn tuổi hơn, vẫn phải gọi con của Bác là Anh hoặc Chị…); điểm này không có trong thân tộc âu mĩ, nên ta thường gặp khó khăn trong việc phiên dịch ra Việt ngữ. Brother là Anh hay Em? Sister là Chị hay Em hay Chị-Em họ?

Lưới thân tộc này không chỉ hạn chế trong vòng thân tộc. Nó bao trùm cả xã hội. Dù không có liên hệ máu mủ hay gia tộc, một người nhỏ tuổi vẫn phải gọi một người dưng lớn tuổi hơn gặp trên đường là Anh hay Chị; nếu người đó lớn tuổi hơn Cha Mẹ mình thì gọi Ông Bà hay Bác Cô, nhỏ tuổi hơn Cha Mẹ thì Chú Thím – Cậu Dì… Lưới này lại còn biến đổi theo mức độ tình cảm, tuỳ lúc tuỳ nơi: kính nể thì Cụ, ít kính nể thì Ông Bà, khinh miệt thì thằng kia con kia.

Nếu vô tình gọi sai danh xưng thân tộc, cá nhân bị thị phi ngay là vô lễ, thiếu giáo dục.

Ngoài áp lực thân tộc, cá nhân còn bị khoá chặt bởi hệ thống thứ bậc làng xã. Trong xã hội việt truyền thống, trẻ em dưới bảy tuổi chưa được kể là người, để có được một chỗ trong bàn tiệc chung. Địa vị của một cá nhân trong làng tuỳ thuộc vào nội trú hay ngoại trú, tuổi tác, nghề nghiệp, danh vọng, tiền bạc, từ đó họ được xếp vào chiếu trên hay chiếu dưới.

Sinh ra và lớn lên trong những vòng vây „đâu vào đó“ như thế, thử hỏi làm sao cá nhân có thể phát huy được cá tính và sự độc lập của mình?

 

Nguyên do thứ hai: không có cái „Tôi“ chủ thể

 

Bị trói như con ong mắc lưới nhện, cá nhân không thể có tự do. Nó luôn phải í thức chỗ đứng nhất định của nó trong hệ thống, để có những xử sự cho đúng đắn, cho „chính danh“, cho „phải đạo“: Con ra con, cha ra cha, ông ra ông.

Vì thế, người Việt không có cái „Tôi“ chủ thể (Subjekt) như Je (Pháp), I (Mĩ), Ich (Đức). mà chỉ có „Tôi“ bị động (Objekt): me, moi (Pháp), me (Mĩ), mich, mir (Đức). Chữ „Tôi“ (và cả „Chúng Tôi“) mà chúng ta vẫn dùng có nghĩa là „Tôi Tớ“ trong lối nói „Vua-Tôi“, „Bầy Tôi“.

Tôi cho rằng, chữ „Chúng Ta“, một khái niệm vốn được các nhà nhiên cứu khen lấy khen để, thật ra cũng chỉ là một cách thế để tránh chữ „Tôi“ chủ thể mà thôi.

Trước đây, giới tây học thường dùng tiếng tây ba rọi nói chuyện với nhau: „Moa nói cho toa hay. Toa làm được, còn moa thì chịu!“. Đấy, họ cũng tự xưng mình với cái Tôi bị động (moi, toi), chứ đâu dùng chủ thể (je, tu) để tự xưng! Do đó, người Việt chỉ quen tuân lệnh, chứ không có khả năng ra lệnh. Họ chấp nhận mọi thứ như là bổn phận phải làm, như số phận đã định. Vì không có cá tính riêng, họ nhập nhằng trong lối xưng hô. Một linh mục trẻ gặp một linh mục già, xưng „Con“, thưa „Cha“, bẩm „Ngài“. Một linh mục già gặp một ông con cũng xưng „Con“, thưa „Cha“, bẩm „Ngài“ với ông con! Thế là sao? Vì khiêm tốn không phải lẽ hay vì thiếu cá tính? Chỉ Công Giáo việt nam mới có thứ văn hoá trái khoáy này mà thôi.

Cũng vì không có cái Tôi chủ thể, người Việt khác với người Âu Mĩ, không có truyền thống hoặc thói quen viết Tự Truyện (Autobiographie). Cần phân biệt Tự Truyện và Tiểu Sử (Biographie). Biographie là do một người khác viết về một người khác. Kiểu như ông Trần Đĩnh được các lãnh tụ cộng sản thuê viết tiểu sử cho họ (đọc thêm „Đèn Cù“ của Trần Đĩnh). Người Việt ít ai dám viết về mình. Gần đây, một số tướng tá tại hải ngoại cũng viết Tự Truyện, nhưng phần nhiều viết để biện minh. Lối Tự Truyện này ít đáng cậy.

 

Nguyên do thứ ba: Văn hoá „Xin“.

 

Đây là một nếp văn hoá tối hệ trọng của dân tộc („XIN” đọc thêm Lê Thị Huệ, „Văn Hoá Trì Trệ, Nhìn Từ Hà Nội Đầu Thế Kỉ 21”, trang 107-115).

Nhan nhãn trên mọi bài viết, mọi bài diễn văn, mọi văn thư, mọi thư từ, mọi lời trao đổi, mọi câu chuyện, nhất nhất đều được mở đầu và kết thúc với „Xin”. Tôi xin kính chào quý vị (thay vì: Kính chào quý vị). Tôi xin cám ơn quý vị (thay vì: Cám ơn quý vị). Tôi xin được nói như sau (thay vì: Tôi muốn nói như sau). Con xin được chào cha (thay vì: Con chào cha). Xin quý vị cho tôi có í kiến như sau (Quý vị hãy để tôi có í kiến như sau).

Người ta nguỵ biện: tiếng Xin ở đây chỉ muốn nói lên sự khiêm tốn!

Cưới vợ thì „xin” cưới. Muốn tới trường thì „xin” học. Cần đơn từ thì „xin” đơn. Tìm việc thì „xin” việc. Bệnh phải nghỉ làm thì „xin” nghỉ. Ngửa tay vì đói thì „xin” ăn.

Bà Huệ kể, chỉ ở miền Bắc hiện nay, hễ ai nhận được từ người khác cái gì thì mở miệng ngay „Cháu xin ạ. Em xin ạ”, thay vì „Cháu cám ơn. Em cám ơn”. Vì văn hoá của ta không có tiếng „cám ơn” nên họ phải dùng từ „xin”? Hay họ bị nhập tâm văn hoá „xin-cho” của cộng sản? Cũng như dân Bắc một thời hễ mở miệng là „Nhờ ơn bác ơn đảng”! Câu thần chú mở đầu mọi câu chuyện của họ.

Xem thế, toàn bộ cuộc sống, từ văn hoá, xã hội, chính trị, văn chương, pháp luật, từ gia đình ra tập thể, bị vây hãm bởi „Xin”. Thiếu chữ Xin trong câu nói hay trong lời văn, chúng ta tự nhiên ngọng miệng, câu chữ bế tắc.

Văn hoá „Xin” từ đâu ra? Rõ ràng, Xin và Lạy là hành vi của con người trước thần thánh. Nhưng không biết từ bao giờ, người Việt đã lôi chúng xuống trần thế, để rồi sẵn sàng vái lạy và cầu xin ngay giữa người với người. Phải chăng vì những ông vua trước đây tự nhận mình là thiên tử, thay trời trị dân, biến dân thành „bề tôi”, một lũ nô lệ, phải sấp mình hoặc khấn vái hoàng thượng để được sống? Và rồi sau đó, đảng cộng sản lại thay trời tiếp tục phát huy lối văn hoá đó?

Cùng một hành vi vái xin thần thánh chuyển sang vái xin người, các dân tộc á châu khác, như Nhật hay Thái, đã biến chúng thành một phong tục giao tế thuần tuý: vái chào khách. Còn dân Việt thì một mặt vẫn giữ tính cách thần thánh của nó, mặt khác lại thần thánh hoá con người (đám lãnh đạo, đám quyền thế, đám có tiền) để vái lạy và xin xỏ. Không những thế, chúng ta còn biến văn hoá „Xin” thành một cá tính dân tộc, toả trùm lên toàn bộ cuộc sống và lối nghĩ.

Gần đây, người dân ra sức mạt sát và quyết liệt chống đối thứ văn hoá „Xin-Cho” do cộng sản áp đặt. Xét cho kĩ và nghĩ cho sâu, hành vi đó thiếu khả tín, là vì chúng ta chống cho có lệ. Đúng hơn, chúng ta vừa chửi vừa chấp tay, vừa chống vừa dâng thỉnh nguyện. Là vì văn hoá „Xin” đã thành hơi thở, đã đi vào tiềm thức, như kiểu tư duy Con – Cái của người mình hay lối tư duy Đực – Cái của một số dân tộc âu châu.

Tắt lại, người Việt sinh ra trong một màng lưới tương quan thân tộc chặt chẽ, lớn lên trong tư thế luôn phải tìm cách thích ứng với môi trường đó (để được tiếng „chính danh”), suy tư và hành động luôn trong tư thế cầu xin kẻ dưới đối với người trên, tư thế của người đối với thần thánh. Xin đã đi vào vô thức. Nó chẳng đòi hỏi động tác bắt buộc đi kèm nữa, như quỳ hay cúi đầu khom lưng. Mà bất cứ ở tư thế nào cũng Xin được. Như giám mục Châu Ngọc Tri cách đây mấy năm mách nước: người ta có thể đứng Xin!

Như vậy thì làm sao người Việt có cá tính mạnh được. Làm sao chúng ta không “nô lệ căn tính” được. Làm sao chúng ta có óc sáng tạo được. Người Việt có thể nổi tiếng về chăm chỉ, về học giỏi. Nhưng khó mà chờ đợi được sáng kiến, tự lập nơi họ. Đó là chưa nói tới việc người mình tự bản chất thiếu óc khoa học. Điểm này tôi sẽ bàn trong một bài tới.

Hi vọng những áp lực ràng buộc vô hình trên đây sẽ không đè nặng trên con cháu chúng ta tại hải ngoại, để chúng có cơ hội trở thành những thế hệ người Việt đua chen được với các dân tộc tiên tiến trên thế giới.

 

Vậy phải làm sao?

 

Phải làm gì để thoát ra khỏi những màng lưới cản ngăn sự triển nở nhân cách và kìm giữ chúng ta trong nô lệ?

Vì văn hoà Xin đã thấm vào tiềm thức, nên cần phải có một nỗ lực chung của mọi giới toàn xã hội, mới mong có thể giã từ được nó.

Nhưng ta có thể bắt đầu ngay, từ mỗi cá nhân. Bắt đầu với việc đơn giản nhất mà cũng khó khăn nhất: Cùng nhau nói Không với văn hoá Xin. Cố gắng í thức và loại trừ thứ rác rưởi này ra khỏi lời nói hay câu văn của mình, bất cứ lúc nào có thể.

Thay vì mở miệng hay đặt bút: “Tôi xin kính chào quý vị. Tôi xin cám ơn quý vị”, thì „Tôi kính chào quý vị. Tôi cám ơn quý vị”.

Thay vì „Xin cho tôi có í kiến”, thì „Tôi có í kiến”.

Thay vì „Xin quý vị rộng lượng xét đơn của tôi” thì „Yêu cầu quý vị rộng lượng xét cho tôi”.

Thay vì „Con xin dzái cha”, thì „Con muốn dzái cha”. Xin thì cha còn ngần ngại, chứ muốn thì chắc chắn cha sẽ sẵn sàng cho!

Phạm Hồng-Lam

Augsburg, 15.03.2015

Nhận Diện Con Người Việt Nam Qua Ngôn Ngữ (II)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *