Nhận Diện Con Người Việt Nam Qua Ngôn Ngữ

Bài III. Văn Hoá „Tình“

 

Để hiểu một dân tộc, cần biết lối tư duy của dân tộc đó.

Muốn biết cách suy tư của họ, cứ xét ngôn ngữ họ dùng.

Cách diễn tả trong ngôn ngữ phản ảnh bản chất của một dân tộc.

 

 

Làng tôi có một ông có tên là „Cu Ba“. Nhỏ con, hay rượu, nên mặt mũi thường đỏ gay. Có lẽ vì có con trai đầu, nên ông được thêm chữ „Cu“. Giả như có con gái đầu, có thể được gọi là „Hoe“, chẳng hạn như ông „Hoe Quy“. Không hiểu ông có biết chữ hay không, chứ khả năng làm thơ thì khỏi nói. Có mặt ông, đám gánh nhà nào, dù căn nhà nặng bao nhiêu, cũng trở nên nhẹ tênh. Ông hò lên hai câu thơ trào phúng, ba bốn chục thanh niên vỡ bụng cười, xông vai vào khiêng căn nhà kéo một hơi đi cả trăm mét không nghỉ. Ông cũng thường xuất hiện trong các đám gặt lúa. Đàn bà con gái cắt lúa, đàn ông thanh niên chúng tôi đập lúa ngay giữa đồng. Công việc nặng nhọc, nhưng cảm thấy vui, nhẹ nhàng, nhờ những câu thơ xuất khẩu rất hợp tình hợp cảnh và luôn vướng chút mùi tục của ông. Mặt trời như thiêu như đốt không gian, nhưng những tiếng cười vẫn nổ vang. Bất cứ gặp tình cảnh nào, ông có ngay những câu thơ tương ứng. Tài thật.

Nhưng kinh nghiệm cuộc đời cho tôi thấy, người Việt không chỉ có một ông Cu Ba, mà có rất nhiều người có khả năng xuất khẩu thành thơ như ông. Trước đây, nhà xã hội học pháp Paul Mus bảo, trong mỗi con người việt nam đều có một ông quan. Tôi nay thì dám bảo rằng, trong mỗi con người việt nam truyền thống đã được thiên nhiên cài sẵn gen thơ. Chất ca dao đã tiềm sẵn tự đời nào nơi dân tộc. Có lẽ người Việt hay thơ, thích thơ, là vì vũ trụ sống của họ là Tình Cảm. Và thơ, ca dao vốn là phương tiện thích hợp nhất để diễn tả tâm tình.

Người Việt giỏi thơ và làm thơ hay.

 

Nhưng người Việt không có óc khoa học.

 

Tại sao?

Khái niệm „Khoa Học“ là một cái gì rất mới đối với chúng ta. Nó chỉ mới có độ gần 100 năm nay, kể từ khi người Pháp đem nền tân học thay cho lối học cũ vào đầu thế kỉ 20. Trong khi các dân tộc âu châu làm quen với khoa học đã trên dưới 600 năm rồi. Trước đây, „khoa học“ của chúng ta chủ yếu là các câu thần chú của thầy Khổng thầy Mạnh nằm gọn trong tứ thư ngũ kinh. Thêm vào đó là một số hiểu biết mang tính cha truyền con nối, chứa đựng nơi những câu ca dao, tục ngữ.

Khoa học đòi hỏi cái nhìn khách quan. Khách quan là khả năng tự tách mình ra khỏi đối tượng, để quan sát, phân tích và nhận định nó qua những dữ kiện có được, chứ không qua lực ép của con tim. Có khách quan tìm hiểu, thì mới có được chân lí. Nhưng, đã sống trong tình cảm, thì không thể có được tính khách quan, vốn là một yếu tố quan trọng hình thành nên khoa học.

Vi vậy mà dân Việt nói riêng, và dân Á Đông nói chung, không phát triển được khoa học. Người Á Đông đã có rất sớm nhiều tư tưởng hay và đã có nhiều khám phá kĩ thuật thần kì, nhưng đã chẳng có được sự minh bạch và chính xác của lí trí để phân tích và hệ thống hoá chúng đề biến thành khoa học. Trong khi đó lí trí phương tây đã biết nắm lấy những thứ đó, để đi tới.

Khoa học coi trọng lí trí. Trong khi chúng ta thì „Một trăm cái Lí không bằng một tí cái Tình“. Đó là phương châm và minh triết sống của người Việt. Chuyện đúng hay sai chẳng cần biết, chỉ cần vo cho tròn là được. Có người dám cả „Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử“ (tựa đề một cuốn sách được giải thưởng thời Đệ Nhất Cộng Hoà của Nguyễn Mạnh Côn)! Họ trân trọng Tình. Còn Lí là thứ có cũng tốt mà không cũng chả sao.

Cố giáo sư Trần Duy Nhiên kể lại [1], trong một buổi trao đổi (năm 2002) với các sinh viên thần học của một Học Viện tại Sài Gòn, giáo sư Nguyễn Khắc Dương phát biểu: „Ở Việt Nam không có trí thức, chỉ có sĩ phu mà thôi” và ông giải thích: „Người trí thức tìm kiếm cái Chân, còn người sĩ phu tìm kiếm cái Thiện. Người phương tây luôn luôn tìm sự thật vì sự thật, và sống chết cho sự thật. Đối với người phương đông, đặc biệt là người VN, thì đúng sai không thành vấn đề lắm, miễn làm sao sống có đạo đức, nghĩa là hợp với cái Thiện. Nói sai sự thật một chút cũng chẳng sao, miễn là mối giao tiếp giữa con người được hòa thuận”.

Một thí dụ cho thấy sự miệt thị sự thật là các bài điếu văn cho các nhân vật vị vọng, cả đạo lẫn đời. Sống chả làm gì, chết toàn được bốc thơm. Bốc thơm một cách phi lí. Hỏi tại sao lại viết như thế? – „Nghĩa tử là nghĩa tận“, vài lời cho đẹp đôi đường! Những bài điếu đó cứ thế trở thành những cuốn Tiểu Sử; những cuốn tiểu sử trở thành Sử. Mà Lịch Sử theo quan niệm của người Việt là gì? Đỗ Kim Thêm [2] cho hay, người Âu-Mĩ quan niệm Lịch Sử là „toàn bộ vấn đề xảy ra được ghi chép cẩn thận và nghiên cứu nghiêm túc“ (That is history; it is totally record). Còn người Việt thì lại coi đó là một biến cố rất quan trọng (It is the most important thing); nhưng quan trọng thế nào, thì còn tuỳ vào quan điểm, lối nhìn, tình cảm của người viết!

Khi người Âu-Mĩ nói: Hồ Chí Minh là một nhân vật lịch sử, thì có nghĩa trước tiên: đây là một nhân vật có mặt thật sự và được ghi nhận rõ ràng trong một không gian và thời gian nhất định. Còn người mình thì hiểu: đó là một nhân vật có ảnh hưởng rất lớn. Mà lớn thế nào? Tuỳ. Ông Quốc Gia bảo, „Nó“ là một „tên đại đểu, đại phản quốc“!. Bà Cộng Sản thì bảo, „hãy học tập tư tưởng và sống theo gương đạo đức của Bác Hồ vĩ đại“! Còn nhân vật đó thật sự là ai, gốc gác như thế nào, địa hạt này ta dành cho người ngoại quốc, còn mình chẳng mấy ai quan tâm. Mà không quan tâm là đúng, vì mình có cần thiết gì sự thật lắm đâu.

Lí trí khoa học đòi hỏi sự chuẩn xác, đó là thứ chúng ta lại thiếu.

Đầu thập niên 80, chúng tôi là một nhóm vài chục sinh viên ngoại quốc. Ông linh mục tuyên uý người Đức tạo cơ hội cho chúng tôi gặp gỡ, bằng cách cứ mỗi tháng lại tụ về căn hộ của ông nói chuyện và ăn uống. Mỗi cuộc họp, một quốc gia phụ trách nấu nướng. Trong lúc cả nhóm trao đổi một đề tài, thì quốc gia tới phiên lo chuyện làm bếp. Tôi ngạc nhiên thích thú theo dõi anh người Nhật nấu cơm. Anh mang tới một cái ca riêng có ghi dung lượng để đong nước và đong gạo. Khi biết số người dự, anh tính ra phải cần bao nhiêu ca gạo, vo qua, cho vào nồi và đổ vào bao nhiêu ca nước. Bật lò đợt 1 rồi ra ngồi tham dự câu chuyện. Xưa nay chưa có người tới phiên nấu nướng nào bài bản và ung dung như anh này. Đúng bao nhiêu phút, anh trở vô bếp, rồi lại ra dự tiếp. Hay thật, nồi cơm của anh có công thức rõ ràng: bao nhiêu người bấy nhiêu gạo và bấy nhiêu nước; bao nhiêu gạo nước, bấy nhiêu phút thì sôi, bấy nhiêu phút phải hãm điện, bấy nhiêu thời gian thì cơm chín. Mọi công đoạn đều được chuẩn hoá. Nhờ có công thức chuẩn hoá như thế, việc truyền dạy nấu cơm trở nên dễ dàng. Người Nhật truyền dạy một công thức nấu ăn, chứ không truyền thừa một kinh nghiệm mơ hồ như kiểu chúng ta: „Cơm sôi bớt lửa một đời không khê“!

Tắt lại, vì quá dựa trên tình cảm, chúng ta thiếu sự chính xác của lí trí, không tôn trọng sự thật, nhập nhằng trong các khái niệm khoa học. Vì thế, về mặt kĩ thuật, chúng ta chẳng có được sáng chế kĩ thuật nào. Đã đành. Về mặt khoa học xã hội (lịch sử, kinh tế, chính trị…), những quan điểm của chúng ta cũng vì thế chẳng có giá trị.

 

Thiếu tự tin

 

Người Nhật tiếp thu Khoa Học trước mình cỡ 50 năm, đâu có lâu gì. Nhưng tại sao họ phát triển được khoa học và có được đầu óc khoa học, chứ không như chúng ta?

Có thể là vì dân Nhật không có „một trăm lí không bằng một tí cái tình“. Và nhất là có thể vì họ đủ tự tin nơi chính họ, nơi dân tộc họ.

Cũng Trần Duy Nhiên kể lại: Khi Roland Jacques, một linh mục công giáo và là giáo sư một đại học ở Ca-na-đa đến khoa Việt Hán Trường Khoa Học Xã Hội tại Sài Gòn, để công bố một số văn bản xưa nhất về chữ quốc ngữ mà ông đã phát hiện trong thư viện lưu trữ của dòng Tên ở Lissabon, ông tình cờ gặp giáo sư Nguyễn Văn Trung cũng từ Ca-na-đa vừa về Việt Nam. Vì từng biết nhau ở Ca-na-đa, giáo sư Trung liền vồn vã lên tiếng chào: „Bonjour mon père“ (chào cha). Linh mục Jacques nắm tay kéo giáo sư Nhiên ra hai bước mà nói nhỏ nhưng dứt khoát: „Nói giùm với ông ấy đừng dùng chữ père ở giữa các giáo sư như thế này”. Roland Jacques muốn xác định rõ ràng rằng, mình là giáo sư giữa những giáo sư, và công trình mà mình sắp trình bày là một công trình khoa học, chứ không dính dấp gì đến chức linh mục.

Nếu ở vào hoàn cảnh của Roland Jacques, quý Vị – là người Việt – sẽ phản ứng ra sao? Riêng tôi, tôi tin rằng, tuyệt đại người Việt sẽ chẳng cảm thấy khó chịu gì cả. Là vì người mình coi tước linh mục quan trọng hơn chuyện khoa học. Nếu chỉ như thế thì cũng chẳng sao. Nhưng nguy hiểm, là khi người ta lấy chức tước hay địa vị lẫn học vị làm bảo chứng cho khả năng chuyên môn. Thí dụ đầy dẫy trên các hệ thống truyền thông. Cũng một điều đó, một nội dung đó do một ai đó nói hay viết ra – nhiều khi hay hơn, sâu sắc hơn – thì người ta coi thường; nhưng nếu nó từ miệng hay ngòi bút của một vị có chút „mục“ (giám mục, linh mục, mục sư) vào đó, thì thiên hạ trầm trồ đón lấy như một chân lí. (Nhưng khen là một chuyện, có thực hành „chân lí“ đó hay không lại là một chuyện khác!).

Một kinh nghiệm mới đây. Chúng tôi cùng nhau thực hiện một tuyển tập về Công Giáo Việt Nam 10 năm qua dưới chế độ cộng sản. Nhiều người viết, có cả giáo sĩ. Có vài người đưa đề nghị: chỉ ghi tên tác giả mà thôi, không ghi chức danh gì cả. Thì có í kiến chống lại ngay: phải ghi chữ „linh mục“ cho các giáo sĩ, vì đây không phải là chức, mà là phẩm chất của người viết và vì „người ta không chịu như thế đâu“! Chuyện xem ra chẳng có gì, nhưng suýt rách việc. Trước đây, tôi cũng đã có kinh nghiệm tương tự đối với một tạp chí nghiên cứu. Một phía thì cứ khăng khăng phải ghi chức danh linh mục, giám mục, hồng i vào tên tác giả. Một phía thì bảo, chỉ ghi tên không mà thôi: Tên của họ là bảo chứng cho những gì họ viết; còn nếu cần để cho độc giả biết thêm về hậu cảnh chuyên môn của tác giả, thì ghi thêm tước vị, học vị, nghề nghiệp và các sáng tác của họ như một ghi chú ở cuối trang hay cuối bài. Cuối cùng, hình như cũng nhờ một người ngoại quốc, mà quan điểm sau thắng thế: Người ta viết với tư cách làm khoa học, chứ không phải với tư cách một nhà tu!

Tại sao người mình lấn cấn về chuyện này? Theo tôi, chung quy cũng là tại vì thiếu tự tin. Họ không quen sống tự lập, không tin vào khả năng mình, thành ra phải cần những cái mặt (nạ) đễ hỗ trợ. Chỉ sợ mất „mặt“. Những „mặt“ chức tước (giáo sư, phó giáo sư, bác sĩ, kĩ sư, linh mục, mục sư, thượng toạ, nhà văn, nhà báo…), „mặt“ bằng cấp (tiến sĩ, phó tiến sĩ…). Không có những thứ đó, họ cảm thấy mình trần tuồng, vô giá trị. Đây là một lí do cắt nghĩa cho cảnh loạn chợ mua sắm bằng cấp hiện nay ở Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

 

 Tình cảm biến thành ngôn ngữ

 

Sống trong vũ trụ tình cảm đã là một bất lợi cho sự phát triển tinh thần khoa học. Cái còn nguy hiểm hơn, là vũ trụ tình cảm đó đã biến thành ngôn ngữ danh xưng và giao tiếp hàng ngày. Đây là yếu tố nguy hiểm nhất giết chết tinh thần khoa học.

Với người Việt, làm văn hoá hay làm khoa học, trước hết là một cách thế để tuyên xưng hoặc giải toả tình cảm cá nhân. Người Âu-Mĩ diễn tả một sự kiện vô thưởng vô phạt, không đánh giá. Cũng một sự kiện đó, khi được diễn tả qua Việt ngữ, người ta biến nó thành một tình cảm chủ quan cá nhân, bằng cách sử dụng những từ nhân xưng đượm cảm tính như: Đức, Ông, Hắn, Ngài, Hắn ta, Ông ta, Nó, Thằng, Cụ, Kẻ, Tên đó…

Hễ đụng tới Phan Bội Châu là phải „cụ“; Hitler, Mao, Hồ là phải „Y“, Gio-an Phao-lô II là phải „đức“. Tại sao không thể viết tên của họ một cách đơn giản và không đánh giá như: „Phan Bội Châu là nhà cách mạng“, „Hồ Chí Minh bịt râu đi xem bộ hạ giết bà Cát Thanh Long“, „Gio-an Phao-lô II trở thành thánh trong Giáo Hội công giáo“?

Tính „chính danh“ nho giáo thể hiện qua ngôn ngữ [3] cũng là yếu tố triệt tiêu tính khách quan khoa học.

Trường hợp Tổng Giám Mục E. Melingo là một thí dụ. Khi ông chưa có vấn đề với Vatican, các ông bà công giáo việt nam đua nhau một „ngài“ hai „đức TGM“. Khi ông lập gia đình, „ngài“ và đức“ bỗng rớt đâu mất. Đến khi ông bị vạ tuyệt thông, người ta chỉ còn gọi xách mé bằng tên gọi, thảng hoặc có người còn ban cho chút ân huệ với chữ „ông“ Melingo! Nghĩa là người ta dùng lối xưng hô dựa trên cảm tính chủ quan mà kết án. Đọc họ, tôi chỉ thấy tâm trạng thay đổi (kính cẩn, hằn học, khinh thường…) của người viết, chứ chẳng biết thêm gì về đối tượng được viết. Người Đức có câu ngạn ngữ: Ein Urteil lässt sich widerlegen, aber niemals ein Vorurteil. Người ta có thể lật lại một phán quyết toà án (Urteil), nhưng chẳng bao giờ chống lại được một tiên kiến (Vorurteil). Ở đây, có lối chơi chữ Urteil – Vorurteil. Nhưng mà đúng vậy. Khi ngôn ngữ đã thành bản án rồi thì khó mà thay đổi. Không biết các ông bà Việt sẽ giải quyết thế nào, nếu Vatican rút lại vạ? Mà những thí dụ trước bị bịt miệng sau làm cố vấn hay trở thành thánh là chuyện không phải là hiếm có trong lịch sử giáo hội công giáo.

Còn chuyện nữa. Cũng vì không phân biệt được giữa khách quan khoa học và chủ quan tình cảm, nên xưa nay những người dịch các tài liệu dính dáng tới Đạo (thường là các giáo sĩ) đã vô tình biến những tài liệu khoa học trở thành kinh kệ cho riêng một nhóm người. Chẳng hạn, khi viết lá thư (tông thư) „Hoà Bình Trên Địa Cầu“, Giáo Tông Gio-an 23 muốn gởi đến không những tín hữu của mình, mà còn tới „tất cả mọi người thiện chí“. Vậy mà có người đã dùng những từ „Ta“ kênh kiệu (thay vì „Chúng tôi“) và „các con“ (thay vì „các Bạn“ hay „quý Vị“) để dịch. Họ muốn bịt miệng Giáo Tông để loại trừ tất cả những người thiện chí ngoài công giáo muốn đọc. Cũng cách thế đó, với những „cha“, „con“, „đức thánh cha“, „ngài“, „đức“… người ta biến các tài liệu thuần sử về Giáo Hội thành một thứ „hạnh các thánh“ chỉ để cho những người công giáo đọc mà thôi. Vô tình chăng? Những mắc mớ về ngôn từ sử dụng thì nhiều lắm. Nhưng tôi chỉ đưa ra vài ba thí dụ, cốt để nói lên rằng, người Việt thiếu cảm thức Khách Quan – vốn là điều kiện tiên quyết để phát triển khoa học.

 

Đề nghị

 

Tóm lại, muốn có khoa học để giúp đất nước phát triển, để giúp dân tộc có được tiến bộ với những sáng tạo trong mọi nghành, người Việt chúng ta phải học và trau dồi tính khách quan. Nghĩa là phải biết dùng sự trong sáng và chính xác của Lí Trí để quan sát, phân tích và nhận định sự việc.

Để được như vậy, phải luôn luôn í thức, để thoát ra khỏi sự chi phối nặng nề của tình cảm.

Mà vì tình cảm đã biến thành ngôn ngữ thường ngày, nên điều phải í thức đầu tiên là cách dùng từ ngữ khi làm văn hoá và khoa học: Tránh tối đa những râu ria cảm tính khi diễn tả sự việc. Khách quan khoa học không có tôn ti. Kính nể khoa học thể hiện qua các công trình chứ không qua bằng cấp, chức tước. Khi viết, tránh lạm phát với những đức, ngài, cụ, hắn, tên kia, con nọ…, vì đó không phải là ngôn ngữ văn hoá và khoa học.

Có í thức và tránh được những điều này, thì hi vọng trong vài ba thế hệ nữa, chúng ta mới có được những sáng tạo, sáng tác văn hoá và khoa học đáng trân trọng.

Phạm Hồng-Lam 

Augsburg, 14.05.2015. Lễ Mẹ về trời

 

[1] „Lời phát biểu trong buổi ra mắt sách của Roland Jacques: Các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha và thời kỳ đầu của Giáo hội Công giáo Việt Nam“  ngày 12.6.21004.

[2] „Hoài niệm và phân tích về ngày 30.4.1975 để giải ảo nguỵ sử, hoà giải dân tộc và xây dựng đất nước“. Web Dân Luận, ngày 7.4.2015.

[3] Xem thêm Diễn Đàn Giáo Dân số 161, tháng 5.2015; http://phamhonglamnq.blogspot.de /2014/10/ ngon-ngu-viet-va-tinh-khach-quan-khoa.html

 

Nhận Diện Con Người Việt Nam Qua Ngôn Ngữ (III)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *