Tài Liệu Hướng Dẫn Khóa Đào Tạo Cơ Bản

Nội dung

1. Đào tạo cán bộ Phong Trào qua các khóa huấn luyện

2. Các đề tài huấn luyện

3. Nghi thức tuyên thệ

4. Một vài nội dung thánh lễ kết thúc khóa đào tạo

5. Mẫu đơn gia nhập Phong Trào

6. Những nét đặc biệt của việc đào tạo cuộc sống siêu nhiên nơi cán bộ Phong trào

 

A. Đào tạo cán bộ Phong trào qua các khóa huấn luyện

Phong Trào Giáo Dân Việt Nam Hải Ngoại có hai hình thức tổ chức các khóa đào tạo, với những mục tiêu khác nhau.

KHÓA ĐÀO TẠO CƠ BẢN

1. Mục đích

Khóa đào tạo cơ bản được nội quy PT nêu lên như một điều kiện tiên quyết để một đoàn viên có thể trở thành hội viên chính thức của PT (Chương I, điều 1, khoản b). Khóa này tạo điều kiện cho mỗi đoàn viên thực sự nghe lại một cách sâu sắc lời Chúa Ki-tô đã gọi họ làm môn đệ của Ngài trong thân phận một người giáo dân. Chúa Ki-tô gọi đích danh mọi đoàn viên theo Ngài, gia nhập thành một nhóm, một cộng đồng cơ bản như nhóm môn đệ theo Ngài lúc Ngài còn sống. Lời Chúa gọi đó được Thánh Linh chuyển đến họ qua lời giáo huấn và cuộc sống của Giáo hội. Trong lòng Giáo hội này, họ nhận lãnh ơn gọi để thực hiện sứ mạng làm môn đệ của Chúa, xây dựng nước Trời trong môi trường trần thế. Tóm lại, khóa đào tạo cơ bản có mục đích đưa đoàn viên ý thức về việc dấn thân của họ theo Chúa Ki-tô để hoàn thành ơn gọi làm người giáo dân trong khuôn khổ PTGDVNHN. Nếu lấy kinh nghiệm truyền thống của sinh hoạt Giáo hội qua các dòng tu, chúng ta có thể xem khóa đào tạo cơ bản là thời kỳ „nhà tập“ trước khi tuyên khấn gia nhập một hội tu. Cũng vì thế, sau khóa đào tạo cơ bản, PT luôn tổ chức lễ nghi tuyên hứa gia nhập PT.

2. Các nội dung thiết yếu của khóa đào tạo cơ bản

Khóa cơ bản không nhằm trình bày hết tất cả những kiến thức về giáo lý, thần học về đời sống ki-tô hữu, ngay cả đối với một Ki-tô hữu giáo dân. Nhưng khóa này nhằm gây ý thức cho đoàn viên nhận rõ thân phận của họ từ phép rửa tội, và hơn nữa là thân phận của một Ki-tô hữu trong cương vị làm người giáo dân. Họ sẽ không chấm dứt khóa đào tạo này với cảm tưởng mình quán xuyến hết mọi vấn đề tôn giáo, nhưng họ ý thức đây là một trong những bước khởi đầu mới.

Để thực hiện được các mục đích vừa nêu của Khóa đào tạo, 4 nội dung thiết yếu này phải được khai triển:

  • Tĩnh tâm: nghe tiếng Chúa Ki-tô, hòa giải với Ngài, gặp Ngài.
  • Chúa Ki-tô, trong Thánh Thần của Ngài đang hiện diện giữa Giáo hội. Nhận thức về mầu nhiệm của Giáo hội. Giới thiệu những nét chính của hiến chế Ánh Sáng Muôn Dân và Vui Mừng và Hy Vọng.
  • Ơn gọi và sứ mệnh của người giáo dân. Giới thiệu những nét chính của sắc lệnh Tông Đồ Giáo Dân, tông huấn Christifideles laici.
  • Trình bày về PTGD, một môi trường thực hiện ơn gọi và sứ mệnh giáo dân trong khung cảnh của cộng đồng công giáo việt nam hải ngoại.

3.  Thực hiện khóa đào tạo

a/ chuẩn bị: Thông thường giai đoạn này không được chúng ta lưu ý đầy đủ. Nhưng chính công việc chuẩn bị là một trong những yếu tố quan trọng nhất đem lại kết quả tốt cho việc đào tạo đoàn viên.

  • Về khóa sinh: Cơ sở địa phương có bổn phận huy động các khóa sinh để họ ý thức, chuẩn bị dự khóa. PT nỗ lực cung cấp các tài liệu liên quan (xem số 2) để khóa sinh tìm hiểu trước khi đến dự khóa đào tạo. Đặc biệt, cơ sở địa phương lưu ý cho khóa sinh ý thức ưu tiên về sự tĩnh tâm sắp đến.
  • Về việc chuẩn bị phần hướng dẫn

Ủy viên BTV đặc trách tổ chức khóa đào tạo lập chương trình, đề nghị các thuyết trình viên trong một thời hạn hữu lý, tránh tình trạng bất ngờ, vá víu.

Huy động lời cầu nguyện chung của toàn thể anh chị em PT cho các khóa sinh.

Huy động các trợ tá viên là những đoàn viên thực thụ đã dự các khóa đi trước.

Nắm vững phần nào các thành phần tham dự.

b/ Thực hiện khóa đào tạo cơ bản

  • Phần giúp đoàn viên khóa sinh dự khóa phải nhờ 1 linh mục hướng dẫn. Ưu tiên mời vị nào đã am tường về các sinh hoạt tông đồ giáo dân trong các hội đoàn.
  • Hai nội dung ở giữa có thể trao cho những vị giáo sĩ hay giáo dân đặc trách. Phần này đặc biệt nói lên được đường hướng canh tân của Giáo hội. Kêu gọi người hướng dẫn trình bày gọn, tổng quát độ 45 phút là tối đa cho mỗi đề tài. Phần thảo luận nhóm cần đến những câu hỏi do thuyết trình viên nêu lên, độ 1 giờ 30 phút cho mỗi đề tài, chia làm 2 đợt.

Phần đúc kết từ 1 giờ tới 1 giờ 30 phút cho mỗi khóa.

 

B. CÁC ĐỀ TÀI

ĐỀ TÀI I: GẶP CHÚA. Ơn gọi và sứ mệnh của Ki-tô hữu

Trước Mình Thánh Chúa, bằng những chỉ dẫn của Phúc âm thánh Mathêô dưới đây, mỗi người tĩnh tâm để nghe lại tiếng Chúa gọi và nhớ lại những cam kết của mình trong ngày lãnh nhận Phép rửa- phép làm cho chúng ta vinh hạnh được làm dân riêng của Người nhưng đồng thời cũng đặt ra cho mỗi người chúng ta những sứ mạng khó khăn.

Mt. 4, 18-22: „Lập tức các ông bỏ thuyền, bỏ chài lại mà theo Người“.

Mt. 5, 11-12: „Phúc cho anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa“.

Mt. 7, 21-25: „Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: Lạy Chúa! Lạy Chúa! là được vào Nước trời cả đâu. Nhưng chỉ những ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là đấng ngự trên Trời mới được vào mà thôi“.

Mt. 8, 1-10: „Từ phương đông phương tây nhiều người sẽ đến dự tiệc cùng tổ phụ Áp-ra-ham, I-sa-ác và Gia-cóp trong Nước trời. Nhưng con cái Nước trời thì sẽ bị quẳng ra…“.

Mt. 25, 31-46: „Vì xưa Ta đói các con đã cho Ta ăn, Ta khát các người đã cho uống… Ta ngồi tù các người đã đến thăm…“.

Mt. 28, 10: „Bấy giờ, đức Giêsu nói với các bà: Các chị đừng sợ! Về báo cho anh em của Thầy để họ đến Galilê. Họ sẽ thấy Thầy ở đó“.

Mt. 28, 19-20: „Hãy đi và làm cho muôn dân thành môn đệ“.

 

ĐỀ TÀI II: GIÁO HỘI theo Công đồng Vatican II

Ba câu hỏi căn bản khi tìm hiểu về Giáo hội:

  • Giáo hội hình thành từ căn bản nào?
  • Giáo hội là gì?
  • Giáo hội sẽ đi về đâu?

1. GIÁO HỘI CỦA BA NGÔI THIÊN CHÚA. Giáo hội hình thành từ căn bản nào?

Quan điểm thần học công giáo phổ biến trước Công đồng Vatican II xem Giáo hội là hình ảnh Chúa Ki-tô. Đây là một quan niệm mà nhà thần học Y. Congar gọi là „Ki-tô nhất nguyên“ (Christomonisme), nghĩa là đặt quá nặng vào khía cạnh cơ chế hữu hình (nhập thể) mà bỏ quên mặt mầu nhiệm và bí tích của Giáo hội. Chính hai chiều kích sau này mới thực là điểm đầy ơn ích, còn mặt cơ chế chỉ là diện.

Sở dĩ nền giáo hội học tiền Công đồng đi tới quan niệm thiếu sót đó là vì nhiều lý do:

  • Sau khi được vua Constantin cho tự do, Giáo hội từ thế kỷ thứ 4 trở đi phát triển rất mạnh, tới độ cuối cùng đồng hóa luôn thế quyền vào giáo quyền. Phẩm trật cũng theo đó mà phát triển và uy quyền của một số hồng y, giám mục trở nên như những lãnh chúa.
  • Càng phản ứng lại các thuyết đề cao mặt mầu nhiệm vô hình của Giáo hội cũng như chống lại chủ nghĩa bảo hoàng (muốn quy phục thần quyền vào thế quyền), Giáo hội thời trung cổ lại càng cương lên về mặt cơ chế.

Cho đến thế kỷ XX giáo hội học gần như chỉ là những phản ứng chống đỡ các trào lưu bên ngoài, nhưng dựa trên một nền tảng phát triển đã mang phần lệch lạc. Tuy nhiên, bước vào thế kỷ XX, nhất là kể từ sau hai cuộc chiến thế giới, với khủng hoảng niềm tin vào cơ chế, với khuynh hướng quay về với tôn giáo sau những thất vọng của con người về lịch sử đồng thời với sự thay đổi tâm thức của con người (khuynh hướng tục hóa gia tăng). Giáo hội đã quay trở về với chính mình, nhận chân và suy gẫm những khiếm khuyết sai lầm và nhất quyết định trở về lại tinh thần Phúc âm ban đầu qua cuộc triệu tập Công đồng Vatican II. Công đồng Vatican II, vì vậy, có thể nói là một công đồng về Giáo hội. Giáo hội đã được quan niệm lại và toàn bộ nội dung được đúc kết trong hai Hiến chế: „Ánh Sáng Muôn Dân“ (Lumen Gentium = LG) và „Vui Mừng và Hy Vọng“ (Gaudium et Spes = GS). LG nói lên tính chất huyền nhiệm và bí tích, GS diễn tả khía cạnh hữu hình nhập thể của Giáo hội.

Công đồng Vatican II tái khám phá ra chiều sâu ba ngôi thiên chúa của Giáo hội. Giáo hội xuất phát từ Ba Ngôi Thiên Chúa, được cơ cấu theo hình ảnh Chúa Ba Ngôi và có mục tiêu tiến về sự hợp nhất ba ngôi của lịch sử. Giáo hội vì thế không thể bị giản lược thành một bộ phận phụ thuộc của lịch sử, của thế giới hữu hình và tùy nghi.

Giáo hội phát xuất từ Ba Ngôi Thiên Chúa: Nghĩa là Giáo hội mang trong mình chương trình cứu độ nhân loại của Chúa Cha, sứ mạng nhập thế của Chúa Con và công trình thánh hóa của Chúa Thánh Thần. Như thế Giáo hội vừa hữu hình và vô hình.

Giáo hội là hình ảnh Chúa Ba Ngôi. Ba Ngôi tuy khác nhau nhưng cùng đồng bản thể. Cũng vậy, Giáo hội tuy gồm nhiều giáo hội địa phương mang nhiều nét khác nhau nhưng cùng hiệp thông với nhau và với vị đại diện chung là giáo hoàng.

Giáo hội tiến về sự hiệp nhất Ba Ngôi. Giáo hội chỉ là một phương tiện đưa con người tới cùng đích cứu rỗi nên Giáo hội cần phải không ngừng cải thiện để việc phục vụ trở nên hữu hiệu. Giáo hội là đoàn lữ hành hướng về Nước Trời, chứ không phải là Nước Trời. Đồng thời cũng trong sứ mạng cứu rỗi mọi người. Giáo hội có nhiệm vụ không ngừng nỗ lực tìm tới đại kết với các Giáo hội anh em và các cộng đồng tôn giáo khác.

2. GIÁO HỘI TRONG THỜI GIAN.  Giáo hội là gì?

  1. Giáo hội – Dân thiên chúa

Giáo hội học tiền Công đồng Vatican II quá coi trọng yếu tố cơ cấu phẩm trật (định chế) và đời sống giáo sĩ. Đến nỗi đi tới khẳng định: Vì sự tồn tại muôn đời của Giáo hội nên Chúa đã lập ra phẩm trật!, mà bỏ quên kho tàng ơn ích phong phú của người tín hữu lãnh nhận khi chịu phép rửa; ơn „tư tế“ của người tín hữu giáo dân vì thế đã bị hy sinh cho vai trò của giáo sĩ.

Khi tìm lại được cội nguồn ba ngôi của Giáo hội, Công đồng đồng thời tái phát hiện tính toàn diện của Giáo hội, nghĩa là sự thống nhất uyên nguyên của Giáo hội tiên khởi (lúc chưa có sự phân cách giáo sĩ giáo dân). Sự kiện Công đồng Vatican II đặt chương „Dân Thiên Chúa“ lên trước chương „Hàng giáo phẩm“ (trong LG) quả là một cuộc cách mạng trọng đại. Cùng với quan điểm này, Phép rửa đã được Công đồng đồng xác định lại giá trị cố hữu. Đây chính là „chức linh mục chung“ làm cho mọi tín hữu, bất luận giữ vai trò nào trong Giáo hội, bình đẳng trước mặt Chúa. Theo Công đồng, Phép rửa và Phép thánh thể là hai bí tích căn bản của đạo. Vấn đề phẩm trật, vì thế, bây giờ chỉ được nhìn trong Giáo hội và cho Giáo hội, chứ không còn ngoài Giáo hội.

Công đồng quan niệm Giáo hội ngày nay như là một thực thể „trong thời gian“ (inter tempora), nghĩa là gồm một đoàn người ra đi từ niềm tin Ba Ngôi đã có lữ hành hướng về Nước Trời, nơi vinh quang Chúa hứa sẽ tới. Đoàn người đó là cộng đồng „Dân chúa“, bao gồm tất cả mọi người không phân biệt „Giáo sĩ“ hay „Giáo dân“ (Hiérachie – Laicat). Lối phân chia này che lấp mất nền tảng nối kết chung của Phép rửa đồng thời ít nói lên được khía cạnh khác biệt của ơn Chúa Thánh Thần đổ trên mỗi người. Ý niệm „Giáo sĩ – Giáo dân“ vì thế được Giáo hội thay thế bằng „Cộng doàn – Thừa tác vụ“ (Communauté – Ministères), nghĩa là trong Cộng đoàn dân chúa chỉ có những người được giao công việc (tác vụ) khác nhau chứ không có thứ bậc hơn kém. „Tu sĩ – Người thường“ (religieux – non religieux) ngày nay cũng chỉ nói lên hai trạng thái sống khác nhau mà thôi, chứ không còn là hai giá trị hơn thua.

Vì là „trong thời gian“ nên tính cách „thế tục” (Laicité) trở thành chiều kích quan trọng của Giáo hội. Giáo hội ngày nay là Giáo hội trong trần thế chứ không còn là Giáo hội và Trần thế. Nhờ tính cách „thế tục“ mà phẩm giá, tự do, độc lập và sự đồng trách nhiệm của mỗi cá nhân trong Giáo hội được công nhận. Tính cách „thế tục“ của Giáo hội bao hàm ý nghĩa là Giáo hội có trách nhiệm đối với lịch sử nhân loại, mang lấy thân phận âu lo và hy vọng của con người, có nhiệm vụ cụ thể đối với con người trong việc giúp họ cứu rỗi. Sau hết, tính cách „thế tục“ cũng có nghĩa là Giáo hội công nhận giá trị độc lập của các thực tế trần gian. Chủ trương một Giáo hội nhất nguyên toàn trị trước đây không còn chỗ đứng, song được thay bằng hình ảnh một Giáo hội tông đồ, chính trị, đối thoại và phục vụ.

  1. Giáo hội – Hiệp thông

Với „Giáo hội trong thời gian“, Công đồng Vatican II cũng đồng thời tái khám phá ra giá trị thần học căn bản của các giáo hội địa phương: Mỗi giáo hội địa phương là một Catholica, nghĩa là một hiện hữu toàn diện trước mặt Thiên Chúa, song hiệp thông làm một với Giáo hội hoàn vũ như Ba Ngôi Thiên Chúa thông hiệp với nhau. Ngoài nền tảng ba ngôi này, sự hiệp thông còn có căn bản từ Phép thánh thể và từ các chiều kích nhân loại. Phép thánh thể – nghi lễ tái diễn biến cố Phục sinh – không xẩy ra trong một khoảng không vô định nhưng được cử hành „lúc này và ở đây“ (hic et nunc), trong một không gian cụ thể. Và con người – phần tử làm thành Giáo hội – cũng không hiện diện một cách trừu tượng, mà trái lại là thành phần của một nền văn hóa nào đó cũng như là người thừa hưởng một gia tài lịch sử nhất định trong đó giáo hội địa phương có mặt.

Sự hiệp thông thể hiện hai cấp độ:

Trong từng giáo hội địa phương, đó là sự liên kết giữa giám mục với các đồng nghiệp linh mục, phó tế và tất cả những ai đã lãnh nhận Phép rửa.

Giữa các giáo hội địa phương, trong phạm vi một quốc gia hay nhiều quốc gia, sự hiệp thông thể hiện qua sự nhất thống của Hội đồng giám mục địa phương và giữa các Giám mục đoàn trên khắp thế giới qui hợp làm một cùng giám mục Rôma, vị đại diện cao nhất của Chúa. Tuy mỗi địa phương có những khác nhau về văn hóa, lịch sử, chính trị… nhưng tất cả, từ giám mục đến giáo dân, đều cùng rao giảng một Lời Chúa duy nhất, cử hành một Bánh Thánh duy nhất và cùng lãnh nhận một Thánh Thân duy nhất.

3. GIÁO HỘI LỮ HÀNH. Giáo hội đi về đâu?

Đồng thời với khám phá nguồn gốc ba ngôi (hữu hình và huyền nhiệm) và cơ cấu hình ảnh ba ngôi (Dân chúa và Hiệp thông) của Giáo hội. Công đồng Vatican II cũng khám phá ra cùng đích ba ngôi, bản chất cứu độ của Giáo hội: Giáo hội là con đường (Ecclesia viatorum) tiến về vinh quang Giêrusalem thiên quốc, mà trên cuộc hành trình này, Mẹ Maria là một mẫu mực soi lối dẫn đường.

Bản chất con đường nói lên tính chất tạm thời của Giáo hội: Giáo hội đang còn trên đường, chưa tới đích, nên đòi hỏi phải luôn sám hối và cải thiện (semper renovanda et purificanda) để phục vụ hữu hiệu đoàn lữ hành trên đường về Nước Trời. Giáo hội vì thế không được đồng hóa với Nước Trời; nó chỉ là một phương tiện để tới đó mà thôi. Hệ quả của nhận thức này là chưa có sự toàn hảo nơi Giáo hội, nghĩa là Giáo hội chắc chắn không tránh khỏi lầm lỗi.

Vì mang tính phương tiện nên nhiệm vụ cao cả của Giáo hội là làm chứng cho sự thật, là vai trò gác cửa; chứ không đi theo một ý thức hệ hay liên kết với một chính quyền nào phản lại Chân lý. Chúa không dạy Giáo hội phải bành trướng tiến lên thống trị thế giới, nhưng phải bằng mọi giá hô to Tình thương và Chân lý. Cái giá phải trả cho vai trò này nhiều khi đầy mất mát và nước mắt, nhưng Giáo hội luôn vui mửng và hy vọng vì con đường của Chúa trước sau cũng sẽ là con đường cứu rỗi chắc chắn nhất.

Ngoài ra, cũng như sự hợp nhất của Ba Ngôi Thiên Chúa, tiêu đích đi tới của Giáo hội cũng là sự hợp nhất của anh em trong nhà, đó là các Giáo hội cùng tin một Chúa, và là con đường đại kết với mọi tập thể tôn giáo khác. Bởi vì bất cứ ai, dù chưa tin vào Chúa nhưng vẫn khát khao tìm về Chân lý tối hậu, đều được cứu rỗi.

(Viết theo Bruno Forte: „L´église, icône de la Trinité“. Médiaspaul 1985

Gợi ý thảo luận

1Chia ra hai cột, một bên ghi tất cả những quan điểm và nhận thức về Giáo hội trước Công đồng và một bên sau Công đồng

2. Giáo hội là hình ảnh Chúa Ba Ngôi. Bạn hiểu như thế nào về nhận thức này?

3. „Ngoài Giáo hội không có ơn cứu rỗi“. Phải hiểu như thế nào về quan niệm này?

4. Tại sao Giáo hội lại có thể lầm lẫn, bất toàn?

5. Giá trị của Phép Rửa theo Công đồng Vatican II?

 

ĐỀ TÀI III: Người tín hữu GIÁO DÂN trong Giáo hội và giữa trần thế

  1. Người tín hữu giáo dân là ai?

Câu trả lời cô đọng của hiến chế „Ánh Sáng Muôn Dân“ (LG).

Danh hiệu Giáo dân có nghĩa là tất cả các ki-tô hữu không thuộc thành phần chức thánh hay bậc tu trì được Giáo hội công nhận, nghĩa là các ki-tô hữu đã được Rửa tội sáp nhập vào thân thể Chúa Ki-tô, được nhập tịch dân Chúa, được trở thành kẻ tham gia theo cách của mình vào chức vụ vương giả của Chúa Ki-tô; họ là những người thi hành sứ mạng của toàn dân ki-tô hữu trong Giáo hội và giữa trần thế theo nhiệm vụ riêng của mình. (LG,31)“

Suốt nhiều thế kỷ trước Công đồng Vatican II với quan niệm phân chia thể xác và tinh thần, trần tục và thần thánh thành hai thế giới riêng biệt, người ta quen đánh giá cuộc sống thân xác, trần tục là xấu xa, tiêu cực. Giáo hội bấy giờ là một tổ chức thần thánh hẵn được nhìn như là thế giới riêng của các bậc tu trì, của hàng giáo sĩ, giáo phẩm. Người giáo dân sống cuộc sống trần tục, muốn được rỗi linh hồn đời sau, thì thụ động chu toàn nghĩa vụ thuần túy tôn giáo do Giáo hội quy định. Và Giáo hội đó như đã nói được giới hạn vào thành phần giáo sĩ, tu sĩ… Mô thức xã hội của Giáo hội đó, một mô thức chịu ảnh hưởng của cơ chế chính trị quân chủ trần thế hơn là đi sát với nội dung mặc khải của Chúa Ki-tô theo các bản Phúc âm.

Nhưng trước Công đồng Vatican II, với sự hướng dẫn của Thánh Thần, đấng luôn canh tân Giáo hội, Đức Giáo Hoàng Piô XII đã mạnh dạn lên tiếng:

Các tín hữu, nói một cách rộng hơn, là các giáo dân là kẻ đứng ở mặt trận tiền phong trong đời sống của Giáo hội. Nhờ họ, Giáo hội trở nên nguyên lý sự sống cho xã hội loài người. Vì thế, chính họ phải ý thức ngày càng rõ rệt là họ không những thuộc về Giáo hội mà là Giáo hội, nghĩa là cộng đồng các tín hữu trên mặt đất, dưới sự hướng dẫn của vị thủ lãnh chung là Đức Giáo Hoàng  và các Giám mục hiệp thông với Ngài. Họ là Giáo hội (diễn văn đọc trước các Hồng Y mới nhậm chức ngày 20.02.1946)

Trong đề tài 1, chúng ta đã lược qua công cuộc canh tân về quan niệm Giáo hội này, khi tìm hiểu ý nghĩa về Giáo hội là Dân Chúa.

  • Chúng ta đã biết rằng nhờ Phép rửa, từ Giáo hoàng đến kẻ hèn mọn bình thường trong anh em chúng ta, mọi người đều trở thành con Thiên Chúa, anh em, chi thể của Chúa Ki-tô, đền thờ Chúa Thánh Thân:

Tất cả chúng ta đã được rửa tội trong một Thánh Thần độc nhất để làm thành một Thân Thể“ ( 1 Cor. 12, 13)

„Anh em là Thân Thể Chúa Ki-tô, vì mỗi người đều là chi thể“ ( I Cor 12,27)

„Và đây là chứng cớ rõ ràng anh em là con cái, được Thiên Chúa sai đến, Thần linh của con Ngài ở trong tâm hồn chúng ta.“(Gal 4,6; Rm 8,15-16)

  • Chúng ta biết rằng, nhờ Phép rửa, mỗi một ki-tô hữu là chi thể Chúa Ki-tô, tham gia vào chức vụ tư tế (thờ phượng Thiên Chúa), rao giảng (truyền bá Tin Mừng) và vương giả (phục vụ) của Ngài.
  • Trong mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể, đặc biệt người tín hữu giáo dân sống ở trần thế được mặc khải rằng cuộc sống trần tục của họ là một ơn gọi tham dự vào sứ mệnh cứu độ của Chúa Ki-tô, như các ơn gọi của các bậc sống khác trong cộng đồng Dân Chúa. Nét đặc trưng để thực thi ơn gọi này của người giáo dân được Công đồng gọi là tính cách trẩn thế :

Chính là lo cứu rỗi con người, nhưng cũng bao gồm canh tân những trật tự thế giới“ (Sắc lệnh Apostolicam actuasitatem 5)

Sự thánh thiện này không phải là được xét theo tiêu chuẩn bậc sống, địa vị ngay cả trong Giáo hội, nhưng chính là sự sống của Chúa Ki-tô mà mỗi ki-tô hữu đều được kêu gọi và có sứ mệnh phải tham gia.

Tất cả những ai tin vào Đức Ki-tô, không phân biệt bậc sống, địa vị đều được kêu gọi tiến đến sự sung mãn của đời sống ki-tô hữu và sự trọn lành của đức ái“ (LG.40)

 2. Người giáo dân trong Giáo hội hiệp thông

„Sự thông hiệp của người ki-tô hữu với Đức Giê-su, lấy sự thông hiệp của Chúa Con với Chúa Cha trong ơn Chúa Thánh Thần làm kiểu mẫu, nguồn gốc và cùng đích“ (Tông huấn Người Tín Hữu Giáo Dân II, 18)

Nhờ Phép rửa, ki-tô hữu mặc lấy chính Đức Ki-tô. Và Đức Ki-tô luôn hiệp nhất với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Và nhờ sự hiệp thông với Đức Ki-tô nên ki-tô hữu hiệp thông với nhau làm thành Dân Chúa.

Hiến chế Ánh Sáng Muôn Dân, trình bày rõ ràng về cuộc sống mới của kẻ đã chịu Phép rửa thế này:

„Thiên Chúa đã không muốn cho con người nhận lãnh sự thánh hóa và ơn cứu độ một cách riêng rẽ, không một giây liên lạc ràng buộc, nhưng Ngài muốn làm cho họ trở thành một dân tộc nhận biết Ngài theo sự thật và phụng sự Ngài trong sự thánh thiện.” (LG. 9)

Đây là một chân trời mới của mặc khải về ơn cứu độ hướng dẫn công cuộc canh tân nếp sống đạo của chúng ta:

  • Nếu không hiệp thông, không có ơn cứu độ:
  • Chương trình cứu độ của Chúa Ki-tô là đem tất cả mọi người không trừ ai vào sự sống của Chúa Ba Ngôi.
  • Sự thánh thiện hàm ngụ trong chương trình cứu độ mọi người này.

Do đó:

  • Không thể tham dự vào ơn cứu độ, nếu chỉ sống đạo cho mình, không hiệp thông với Giáo hội là Dân Chúa, không rao truyền ơn cứu độ đến người bên cạnh.
  • Quan niệm dễ dãi và ngụy tín cho rằng: ´giữ đạo tại tâm´, cho rằng chỉ biết có Chúa và mình bất chấp người bên cạnh, bất chấp cuộc sống Giáo hội, tránh né các bổn phận xã hội… lối sống đạo thụ động và vô trách nhiệm đó đi ngược lại mặc khải của ơn cứu độ nơi Chúa Ki-tô.
  • Dân Chúa được ví như một thân thể sống động:

Sự hiệp thông trong Giáo hội là một sự hiệp thông ´cơ cấu´ giống như một thân thể sống động. Nó bao gồm các thành phần khác biệt nhưng bổ túc nhau theo ơn gọi và vị thế, gồm các thừa tác vụ, các ơn đoàn sủng và các trách nhiệm khác nhau. Nhờ có sự khác biệt và bổ túc này, mỗi tín hữu giáo dân có liên hệ với toàn thân và đem lại phần đóng góp cho toàn thân.“ (Tông huấn Người Tín Hữu Giáo Dân II, 20)

Vì ơn cứu độ đổ xuống cho mọi người để mỗi người trở thành thành phần gắn bó với cuộc sống của Dân Chúa, nên các thừa tác vụ và đoàn sủng phát xuất từ sự sống của Chúa Ki-tô. Thánh Thần của Ngài luôn hướng đến việc xây dựng Thân Thể Chúa Ki-tô là Giáo hội và để truyền giáo cứu rỗi thế giới.

Do đó ta nhận ra rằng:

  • Trong Giáo hội, có những thừa tác vụ được truyền phong nghĩa là phát nguồn từ Phép truyền chức thánh. Những thừa tác vụ không phải là một giai cấp thống trị theo quan niệm quyền bính thế gian, nhưng:

Các thừa tác vụ được truyền phong là một ân sủng được ban cho toàn thể Giáo hội, chứ không chỉ là ân sủng cho cá nhân người lãnh nhận.” (Tông huấn Người Tín Hữu Giáo Dân II, 22)

  • Vì tính cách phục vụ toàn dân Chúa, nên

giáo dân nhìn nhận rằng chức linh mục thừa tác vụ tuyệt đối cần thiết cho cuộc sống của chính mình” (tld II, 22)

  • Người giáo dân có những thừa tác vụ, nhiệm vụ và các chức vụ của mình.

đặt nền tảng bí tích trong Phép rửa tội, Phép thêm sức và hơn nữa trong Phép hôn phối đối với nhiều người trong giáo dân.” (tld II, 23)

Chúa Thánh Thần cũng ban cho cuộc sống Giáo hội phong phú qua các ân huệ và ân sủng đặc biệt, gọi là ơn đoàn sủng. Công đồng Vatican II khám phá lại ơn ích đặc biệt này, khích lệ mỗi một ki-tô hữu tích cực phát huy để phục vụ cuộc sống Dân Chúa, nhưng Công đồng nhắc nhở thêm:

Những vị hữu trách của Giáo hội có thẩm quyền phán quyết về tính cách chân thực và việc xử dụng hợp lý các ơn ấy; các Ngài có nhiệm vụ thử thách, không phải để dập tắt ơn Chúa Thánh Thẩn. nhưng để trắc nghiệm và giữ lại những gì là chính đáng” (LG. 12)

  • Giáo dân tham gia vào đời sống Giáo hội:

Ngoài các thừa tác vụ, các đoàn sủng, người giáo dân tham gia vào sự sống của Giáo hội bằng nhiều sinh hoạt linh động khác. Đặc biệt là Công đồng Vatican II và tông huấn Người Tín Hữu Giáo Dân kêu gọi người giáo dân tích cực, linh động mở rộng công tác tông đồ của mình:

Công đồng khích lệ các tín hữu giáo dân sống linh động trong Giáo hội địa phương, đồng thời càng ngày hướng đến Giáo hội hoàn vũ công giáo“ (Tông huấn Người Tín Hữu Giáo Dân II, 25)

Giáo dân được tham gia vào các đại hội đồng giáo phận hay vào các hội đồng địa phương như hội đồng tỉnh hạt đã được giáo luật dự định.

Trên bình diện vùng, quốc gia, người giáo dân hợp tác hoặc được thăm dò ý kiến về mặt phát triển Giáo hội.

Cụ thể hơn hết người giáo dân tích cực dấn thân vào công tác hoạt động tông đồ trong giáo xứ.

Ngoài việc tông đồ cá nhân, Giáo hội đón nhận: “một mùa gặt mới của các hội đoàn tín hữu giáo dân” (Tông huấn Người Tín Hữu Giáo Dân II, 29)

“Cần phải tạo nên những nơi gặp gỡ, điều kiện để Giáo hội có thể hiện diện và hoạt động hầu đem lại ân sủng và lời Phúc âm vào trong những môi trường sống phức tạp của con người hôm nay. Một cách tương tự, có nhiều cách thế chiếu rọi ảnh hưởng thiêng liêng hoặc làm tông đồ trong phạm vi văn hóa, xã hội, giáo dục, chức nghiệp v.v… Không thể lấy giáo xứ làm trung tâm hoặc khởi điểm” (Tông huấn Người Tín Hữu Giáo Dân II, 26)

“Trước tiên phải công nhận là người tín hữu giáo dân có quyền tự do thành lập hội đoàn trong Giáo hội. Quyền tự do này là một quyền lợi thật, nó không phải chỉ là một hình thức ´nhân nhượng´ của giáo quyền mà là hậu quả đương nhiên của Phép rửa tội.” (tld II, 29)

5 tiêu chuẩn của một hội đoàn giáo dân:

  • Mục đích tiên quyết: ơn gọi nên thánh của người tín hữu.
  • Dấn thân tuyên xưng đức tin Công giáo
  • Hiệp nhất với các vị chủ chăn
  • Thực hiện công tác truyền bá phúc âm
  • Phục vụ nhân phẩm toàn diện con người đúng theo học thuyết xã hội của Giáo hội.

3. Người giáo dân dấn thân vào trần thế

Nét đặc trưng sứ mệnh làm người ki-tô hữu của thân phận người giáo dân được Công đồng Vatican II nêu lên là: sống phúc âm bằng cách phục vụ con người và xã hội: dấn thân ki-tô giáo.

Về công tác dấn thân ki-tô giáo, tông huấn Người Tín Hữu Giáo Dân nêu lên như một cuộc canh tân về việc rao giảng Phúc âm của Giáo hội. Và tông huấn cũng đã đưa ra những chỉ dẫn chi tiết thích ứng với hoàn cảnh thế giới ngày nay.

  • Trước nỗi hoang mang, hỗn loạn của cuộc sống xã hội ngày nay, Giáo hội kêu gọi người giáo dân dấn thân, không sợ hãi, để loan báo:

Con người được Thiên Chúa yêu thương! Đó là điều rất đơn giản và cũng là rất táo bạo mà Giáo hội phải loan truyền cho mọi người“ (tld III,34)

„việc rao giảng Phúc âm không phải chỉ cho từng người, mà cho toàn thể các dân tộc tùy theo tình trạng, lãnh vực và văn hóa riêng của họ.“ (tld III, 34)

„vấn đề truyền giáo của Giáo hội phải liên đới mới hy vọng đem lại kết quả (tld, 35)

„việc đối thoại tôn giáo rất quan trọng vì nhờ đó họ biết yêu thương nhau và kính trọng nhau, hay ít nữa xóa bỏ, xoa dịu các thiên kiến giữa các tín đồ các đạo, và cổ võ được sự hợp nhất và tình bằng hữu giữa các dân tộc“ (tld III, 35)

„thăng tiến phẩm giá con người“ (tld III, 37)

„tôn trọng quyền bất khả xâm phạm“ (tld III 38)

”tự do tôn giáo (tld III, 39)

“thăng tiến gia đình (tld III, 40)

“các tín hữu giáo dân tuyệt đối không thể từ chối tham gia vào ´chính trị´, nghĩa là vào các hoạt động nhiều sắc thái, kinh tế, xã hội, luật pháp, hành chánh, văn hóa, có mục đích cổ võ công ích một cách có cơ chế.” (tld III, 42)

“Đặt con người vào trung tâm điểm của đời sống kinh tế xã hội (tld III. 43)

“Phúc âm hóa văn hóa và các nền văn hóa của con người (tld III, 44)

4. Đào tạo giáo dân

Để có thể thực thi được ơn gọi và sứ mệnh của mình, người giáo dân cần được đào tạo để đạt đến mức độ trưởng thành.

„Việc đào tạo tín hữu giáo dân phải trong những ưu tiên của Giáo hội, và hiện diện trong các chương trình sinh hoạt mục vụ, làm thế nào để tất cả cố gắng của cộng đoàn [linh mục, tu sĩ, giáo dân] qui hướng về mục đích này” (tld V, 57)

„nhận biết và phát triển ơn gọi và sứ mệnh của mình, ơn ích, tài năng phục vụ riêng Chúa ban cho mình để xây dựng dân Chúa“ (tld V, 58)

„xây dựng một cuộc sống nhất quán, đưa đức tin vào hành động cụ thể, và đưa cuộc sống trần thế thấm nhuần Phúc âm „(tld V,59)

„cần thăng tiến đời sống thiêng liêng [sùng đạo], học biết giáo lý, thần học [biết đạo], đặc biệt thấu hiểu học thuyết xã hội của Giáo hội, để ứng dụng tích cực vào cuộc sống dấn thân [hành đạo]“ (tld V, 60)

ChoNhận:

„Trong công trình đào tạo, một vài điều xác tín đặc biệt xem là cần thiết và hữu ích. Trước hết cần xác tín rằng không thể có việc đào tạo thật sự và hữu hiệu nếu mỗi người không tự đảm trách và khai triển trách nhiệm đào tạo chính mình. Vì tất cả các công trình đào tạo thiết yếu là ´tự đào tạo lấy mình´.

       Sau đó, xác tín rằng mỗi người trong chúng ta là kết quả và là nguyên lý của việc đào tạo, chúng ta càng được đào tạo hoàn hảo bao nhiêu, thì chúng ta lại càng có khả năng đào tạo kẻ khác bấy nhiêu.“ (tld V, 63)

Các câu hỏi để thảo luận đề tài III

 1. Tìm hiểu nguyên nhân thái độ thụ động và dửng dưng của người tín hữu giáo dân trong việc tham gia và cuộc sống Giáo hội. Đặc biệt lưu ý đến thực trạng của người tín hữu Việt Nam chúng ta. 

2.´Hiệp thông´ là gì? Công đồng Vatican II nhấn mạnh nguồn ´hiệp thông´ từ nguồn mạch sự sống nào? Có thể sống đạo, nên thánh khi chỉ nghĩ đến phần rổi riêng của mình được không? 

3. Công đồng Vatican II đề cao ơn gọi và sứ mệnh của người giáo dân, dựa vào nền tảng nào? Khi nhắc nhở đến thân phận bình đẳng của người Ki-tô hữu – giáo sĩ cũng như giáo dân – trong cộng đồng dân Chúa, Giáo hội còn lưu ý đến nghĩa vụ làm ki-tô hữu đó của người giáo dân như thế nào trong cộng đồng dân Chúa?

4. Dấn thân ki-tô giáo dựa trên nền tảng mầu nhiệm nhập thể của Chúa Ki-tô. Nhưng thực tế, người tín hữu Việt Nam chúng ta dường như còn cho rằng việc dấn thân của người tín hữu chỉ là những trường hợp đặc biệt và tùy nghi (không bắt buộc) trong cuộc sống đạo. Lý do nào đưa đến những trì trệ trong nổ lực canh tân cuộc sống đạo của chúng ta qua thái độ này?

 

ĐỀ TÀI IV: PHONG TRÀO GIÁO DÂN VIỆT NAM HẢI NGOẠI

 1. Diễn tiến thành lập

Năm 1987, có ba biến cố quan trọng trong Giáo hội, liên quan tới cộng đồng tín hữu Việt Nam tại hải ngoại.

  1. Đức Thánh Cha triệu tập Thượng hội đồng Giám mục Thế giới để duyệt lại việc cổ võ ơn gọi và sứ mạng giáo dân mà Công đồng Vatincan II đã cổ xúy trước đây 30 năm.
  2. Tòa thánh lập Văn phòng Trung ương Phối kết Tông đồ Mục vụ Việt nam Hài ngoại (VPTƯ); Đức ông Philipphê Trần Văn Hoài được ủy thác trách nhiệm giám đốc.
  3. Chuẩn bị lễ phong Thánh 117 chân phước tử đạo tại Việt nam.

Thúc đẩy bởi gương sáng của các Thánh tử đạo, mà phần đông các vị là những chứng nhân giáo dân can trưởng dấn thân và khơi nguồn hứng khởi từ Tông huấn „Người Tín Hữu Giáo Dân“, văn kiện đúc kết kỳ họp Thượng hội đồng Giám mục, đức ông Trần Văn Hoài, trong tư cách giám đốc VPTƯ, đã nghĩ tới việc thành lập một Văn phòng Giáo dân (VPGD) trực thuộc VPTƯ để đặc biệt cổ võ sứ mạng tông đồ nơi người giáo dân.

Nhưng làm sao để việc gây ý thức đó có hiệu quả?

Câu trả lời: Phải có một tổ chức thích hợp cho người giáo dân.

Cho tới lúc đó, đã có nhiều hình thái và nổ lực dấn thân nhen nhóm đó đây trong các tập thể giáo dân:

a/ Nặng về tu đức có các Phong trào Cursillo, Linh thao, Focolare…

b/ Nặng về dấn thân xã hội có:

  • Nhóm Đường Sống: Gồm một số giáo dân tại Orange County (Hoa kỳ) quy tụ quanh nguyệt san “Đường Sống”, tờ báo quan tâm tới số phận các đồng bào đang kẹt tại các trại tỵ nam Đông Nam Á.
  • Nhóm Dấn Thân: Một số anh chị em ở Houston (Hoa kỳ) làm tờ “Dấn Thân” cổ võ ý thức tông đồ giáo dân.
  • “Đoàn Công dân Công giáo” tại Bỉ dấn thân trực tiếp vào môi trường chính trị.

Đó là chưa kể sự hiện diện của nhiều tổ chức, đoàn thể hoạt động trên các lãnh vực văn hóa, xã hội, chính trị, tôn giáo … trong các cộng đồng người việt hải ngoại.

Trong nổ lực tìm ra một phương thức dấn thân phù hợp (không quá nặng tu đức mà cũng tránh chủ nghĩa vong động) cho giới giáo dân trong môi trường hải ngoại, VPGD phần mình đã mời một số anh chị em giáo dân tại Âu châu, tụ họp với nhau dưới danh xưng “Ủy ban Giáo dân tại Âu châu” (1988), nghiên cứu, liên lạc trao đổi và tìm hiểu vấn đề.

Sau nhiều năm thử nghiệm và bàn bạc – đặc biệt nhờ nỗ lực nối kết của Đức ông Trần Văn Hoài – Ủy ban Giáo dân Âu châu và các nhóm trên đã đồng ý cùng hình thành một tổ chức mới với sinh hoạt không còn đóng khung trong vòng địa phương quốc gia.

Bản Hiến chương Thành lập của Phong Trào Giáo Dân Việt Nam Hải Ngoại (PTGDVNHN) đã được các đại diện biểu quyết chấp thuận tại Rôma ngày 07 tháng 10 năm 1992 và ngay sau đó PTGDVNHN đã được Đức ông Trần Văn Hoài long trọng tuyên bố thành lập.

2. Bản chất Phong Trào Giáo Dân Việt Nam Hải Ngoại

Đã không có một mẫu mực sẵn nào cho một Phong trào thuần túy Việt trong môi trường hải ngoại. Thành ra sau nhiều năm điều nghiên các hình thái sinh hoạt hiện có, tất cả đã nhận định rằng không có mẫu mực nào hay hơn mẫu mực của Chúa Ki-tô khi Ngài tuyển chọn Tông đồ. Ngài gọi đủ hạng người, sống với họ thành nhóm, trong tình huynh đệ thâm tín, cùng cầu nguyện và cùng dấn thân vào đời rao giảng Tin Mừng của Cha. Trong tinh thần đó, Hiến chương định nghĩa Phong trào:

“PTGDVNHN là một tổ chức tự nguyện, quy tụ những giáo dân Việt nam hải ngoại ý thức sứ mệnh giáo dân theo tinh thần Công đồng Vatican II, sẵn sàng dấn thân phục vụ giáo hội và canh tân xã hội theo học thuyết xã hội công giáo và truyền thống dân tộc” (Hiến Chương Thành Lập)

Như vậy Phong Trào Giáo Dân Việt Nam Hải Ngoại:

  1. Mang sắc thái một Phong trào đồng thời là hiệp hội tư:

Khi chọn lối tổ chức “Phong trào”, các đại biểu thành lập muốn nhấn mạnh đến tính chất động và cách mạng của một tổ chức. Phong trào có nghĩa là Mouvement, Bewegung, là những đợt sóng tiếp nối xô đẩy. Cách mạng tính của PT là không ngừng thúc đẩy đi tới, tới những mục tiêu đã chọn (kiện toàn bản thân, phục vụ giáo hội, canh tân xã hội).

Ngoài ra, như Hiến chương đã đề cập, dù được thành lập trên căn bản giáo luật (Quyển II, Phần I, Thiên V) và hoạt động trong khuôn khổ Giáo hội (với phép của Hội đồng Giáo hoàng Giáo dân), PT vẫn là một hiệp hội tư, nghĩa là không đại diện cho tất cả giáo dân Việt nam hải ngoại mà cũng không thay thế cho bất cứ một cơ chế chính thức nào của giáo dân trong các cộng đoàn.

  1. Gồm những Cán bộ dấn thân, sống thành nhóm trong tình huynh đệ:

Khi được gọi, đa số các Tông đồ xưa không phải là những kẻ học thức hoặc đạo đức hơn người. Nhưng với ơn Chúa Thánh Thần và với lòng quyết tâm theo Chúa, các ngài đã trở thành những thợ gặt – nói cách khác, những cán bộ Tin Mừng. Nhờ dấn thân của một nhóm nhỏ 12 người ban đầu đó mà Giáo hội Chúa mới có ngày hôm nay.

Cũng vậy, đoàn viên Phong trào được kêu gọi từ mọi giới. Nhưng khi đã là đoàn viên, họ phải trở thành cán bộ với đủ khả năng rao truyền và san sẻ Tin Mừng cho người khác. Với sứ mạng của những cơn sóng xô đẩy, đoàn viên Phong trào không chỉ bằng lòng với thái độ làm chứng nhân một cách thụ động, song còn nỗ lực chủ động tìm phương cách thực hiện lý tưởng của mình. Đạo đức không chưa đủ, cán bộ Phong trào còn phải là những chiến sĩ Tin Mừng trong mọi lãnh vực trần thế. Tha nhân là lý do có mặt của Phong trào, nên cán bộ Phong trào được khuyến khích tham gia tích cực vào các lãnh vực, tổ chức sinh hoạt phù hợp với mình. Và trong các dấn thân đó, họ không đơn độc, vì sau họ là sự hỗ trợ của nhóm huynh đệ, là trạm xăng nơi cung cấp nhiên liệu cho họ.

  1. Hoạt động với chức năng khuyết trợ (bổ khuyết và hỗ trợ = subsidiarité)

Phong trào không phải là một tổ chức mới, lập ra để cạnh tranh với các tổ chức có sẵn thuộc bất cứ lãnh vực nào. Mà chức năng chủ yếu của nó là bổ khuyết và hỗ trợ những gì mà các phong trào, tổ chức hiện có hoặc vì các hạn chế địa phương, chuyên môn, khả năng, phương tiện… không thực hiện được. Xây dựng tình huynh đệ và đào tạo cán bộ là những công tác hỗ trợ chính yếu. Vì thế, như trên đã nói, cán bộ Phong trào luôn được khuyến khích tích cực dấn thân vào các sinh hoạt phù hợp.

3. Mục tiêu của Phong Trào Giáo Dân Việt Nam Hải Ngoại

Ba mục tiêu: sống tình huynh đệ, đào luyện cán bộ, gây ý thức quần chúng bằng công tác.

  1. Sống tình huynh đệ:

Đây là mục tiêu căn bản khởi đầu. Sở dĩ Phong trào được tổ chức thành nhóm (Phong trào Cơ sở) là vậy. Không tập được làm việc chung, không biết phát huy tình huynh đệ thì làm sao dấn thân được. Đây cũng là hai yếu tố vô cùng cần thiết để hàn gắn các vết thương dân tộc và kiến thiết đất nước mai sau. Muốn học sống tình huynh đệ, không gì tốt hơn tìm hiểu mẫu mực sống và sinh hoạt của các tông đồ xưa.

  1. Đào luyện cán bộ:

Đoàn viên cán bộ Phong trào phải trở thành những chiến sĩ đức tin (biết đạo, sùng đạo và truyền đạo) và những “tác nhân biến cải” (change agents) để canh tân xã hội. Mà để có thể đóng được vai trò chứng nhân đức tin và tác nhân biến cải xã hội, cán bộ Phong trào phải tự luyện cũng như học tập về 3 phương diện:

  • Tu đức:

Học hỏi Phúc âm, sống Phúc âm, sống các phép bí tích, hiệp thông trong sứ mạng và thao thức của Giáo hội. Mọi cách mạng xã hội khởi đi từ cách mạng bản thân. Việc canh tân Giáo hội phải bắt đầu từ việc đổi mới nơi mỗi một người tín hữu. Không CÓ thì làm sao CHO?

  • Học thuyết xã hội công giáo

Đây là hành trang kiến thức không thể thiếu của người cán bộ vào đời, hoạt động trong mọi lãnh vực trần thế.

  • Kiến thức của một tác nhân biến cải – nói khác đi, của 1 người lãnh đạo

Phương pháp và kỹ thuật lãnh đạo, truyền thông đại chúng, vận động và hướng dẫn dư luận, kỹ thuật tạo ảnh hưởng…

  1. Gây ý thức bằng công tác thực tế

Là một tổ chức, Phong trào đương nhiên cũng cần phải có công tác thực tế. Không có việc làm, đức tin chết. Tuy nhiên, trên căn bản, những sinh hoạt của Phong trào, dù mang tầm vóc địa phương hoặc quốc tế, chủ yếu mang tính cách hỗ trợ và giúp phát huy công tác đào tạo và tạo dư luận.

Vận động dư luận là phương pháp hữu hiệu nhất trong việc gây ý thức quần chúng, chuẩn bị đất đai để gieo vãi những mục tiêu canh tân muốn hướng tới.

 

Gợi ý thảo luận

  1. Nhiều tổ chức hội đoàn rồi, cần gì phải lập thêm hội hẻ gì nữa!” Hãy cho biết vị trí của Phong trào trong tương quan với các tổ chức, hội đoàn đạo đời khác.
  2. Thế nào là chức năng khuyết trợ? Với chức năng này, đâu là (những) công việc / nhiệm vụ chính của Phong trào?
  3. Theo bạn, Phong trào cần làm gì nhất trong hoàn cảnh hiện nay?

 

C. NGHI THỨC TUYÊN HỨA GIA NHẬP PHONG TRÀO

  1. Nghi thức tuyên hứa chính thức gia nhập Phong trào cho các đoàn viên:
  • đã làm đơn gia nhập
  • đã dự khóa đào tạo cơ bản
  • đã được sự đồng ý của Ban Thường Vụ (thành viên BTV trách nhiệm khóa đào tạo liên hệ)

được tổ chức trong thánh lễ bế mạc của khóa đào tạo,

sau phần Phụng vụ Lời Chúa

trước phần Phụng vụ Thánh Thể

  1. Nghi thức tuyên hứa gồm hai phần:
  • Tiếp nhận Ánh sáng Phục sinh của Chúa Ki-tô

Sau phần phụng vụ Lời Chúa (và giảng), đoàn viên tuyên hứa được gọi tên từng người một lên đứng trước bàn thánh. Chủ tế tiếp lửa từ ngọn nến Phục sinh trên bàn thờ trao cho đại diện Ban thường vụ. Đại diện BTV cũng là đại diện cho toàn cộng đồng PTGDVNHN trao tiếp ngọn nến cho người tuyên hứa.

Ngọn nến nhắc nhở lại ánh lửa Phục sinh mỗi người tín hữu nhận lãnh ngày chịu Phép rửa gia nhập cộng đoàn dân Chúa, cũng như những lời tuyên xưng long trọng mà cha mẹ và người đỡ đầu thay mặt nói lên trong ngày trọng đại đó.

  • Đọc lời tuyên hứa

Sau khi tiếp nhận nến mang ánh sáng Phục sinh của đức Ki-tô, tất cả các người tuyên hứa cùng đọc:

„Nhờ ơn Chúa Thánh Thần / với sự phù trợ của Mẹ Maria.

Chúng con tuyên hứa / cùng nhau bước theo Chúa Ki-tô /

thực thi ơn gọi và sứ mệnh của người tín hữu giáo dân trong Giáo hội và giữa trần thế /

theo tinh thần và trong khuôn khổ sinh hoạt của Phong trào Giáo dân Việt nam Hải ngoại.

Đọc xong lời tuyên hứa, cộng đoàn bắt lên bài hát „Xin hãy sai đi“ của Lm. Hoàng Kim. Hát xong, đoàn viên tuyên thệ về lại chỗ ngồi dành riêng, thường là ở dãy ghế đầu. Sau đó chia nhau lên đọc lời nguyện giáo dân. Nếu số tuyên thệ đông thì chỉ cử vài người đại diện lên mà thôi.

 

D. ĐỀ NGHỊ MỘT VÀI NỘI DUNG THÁNH LỄ KẾT THÚC KHOÁ ĐÀO TẠO

(có nghi thức tuyên hứa)

  1. Nhập lễ: Hát „Cầu Xin Chúa Thánh Thần“ (Phương Linh)
  2. Các bài đọc: Tùy thời điểm phụng vụ và chủ tế
  3. Giữa hai bài đọc: Hát „Lắng nghe tiếng Chúa“ (Nguyễn Duy)
  4. Sau khi đoàn viên đọc lời tuyên thệ: Hát „Xin Hãy Sai Đi“ (Hoàng Kim) hoặc một bài khác với nội dung tương tự.
  5. Dâng lễ: Không hát. Hiệp lòng cùng dâng của lễ với chủ tế.
  6. Lời nguyện giáo dân: Ít nhất là ba lời nguyện
  • Cầu cho các tân đoàn viên biết ý thức và thi hành sứ vụ của mình
  • Cầu cho Giáo hội quê nhà và hoàn vũ
  • Cầu cho quê hương và thế giới
  1. Đang hoặc sau rước lễ: Hát „Kinh Hòa Bình“ (Kim Long) hoặc: „Tâm Tình Hiến Dâng“ (Oanh Song Lam)
  2. Kết lễ: Hát bài: „Khen Mừng Mẹ Mân Côi“ (Hải Linh)

 

E. MẪU ĐƠN GIA NHẬP

Phong Trào Giáo Dân Việt Nam Hải Ngoại

Max Gutmann 6 1/7. D – 86159 Augsburg GERMANY

(Mẫu)

 

ĐƠN GIA NHẬP

Tên thánh

Họ và tên

Địa chỉ:

 

Muốn được gia nhập Phong trào Giáo dân Việt nam Hải ngoại. Sinh hoạt trong

Phong trào cơ sở: ………………………………………………………………………….

 

…………………………………. ngày………. tháng………. năm………..

Ký tên

………………………………

 

F. Những nét đặc biệt của việc đào tạo cuộc sống siêu nhiên cho người cán bộ giáo dân việt nam hải ngoại

  1. Canh tân về ý thức thân phận người giáo dân việt nam

Đây được gọi là nét đặc biệt vì là bước khởi đầu. Người giáo dân việt nam thường tự bằng lòng với một quan điểm sai trái rằng mình là ki-tô hữu hạng nhì trong cộng đồng dân chúa. Công đồng Vatican II canh tân lại cuộc sống Giáo hội qua việc thức tỉnh ý thức của người giáo dân, cho họ thấy tất cả những ai chịu phép rửa, không trừ ai, đều có bổn phận kiện toàn cuộc sống đạo của mình trong việc biết đạo, sùng đạo và hành đạo.

  1. Cuộc sống siêu nhiên chỉ đạo các công tác dấn thân khác

Tất cả các sinh hoạt của PT đều được triển khai ở nhiều môi trường khác nhau, mang những hình thức biểu lộ khác nhau, đều chỉ nhằm một mục đích duy nhất là thực hiện Tin Mừng của Chúa. Cuộc sống siêu nhiên không có gì khác hơn là mặc lấy sự sống của Chúa Ki-tô. Vì thế bất cứ hình thức dấn thân nào không phát xuất từ hứng khởi của cuộc sống siêu nhiên mình, nơi PT mình, thì đều nằm ngoài đường lối của PT.

  1. Cuộc sống siêu nhiên được đào tạo hướng đến mức trưởng thành

Sự trưởng thành toàn vẹn của con người là Chúa Ki-tô. Không ai trong nhân loại đạt đến mức này, nhưng ý thức và nỗ lực ngày ngày tìm Ngài, học biết về Ngài, làm theo lời Ngài là bước khởi đầu đi vào sự trưởng thành của Ngài. Trong cuộc sống ngày nay của người giáo dân việt hải ngoại, sự thách đố của những vấn đề trần thế ngày càng phức tạp, những kiến thức khoa học, văn hóa, xã hội… càng ngày càng cao, đòi hỏi về phía họ phải am tường những chân lý, ánh sáng của Phúc âm, của giáo lý, của giáo huấn Giáo hội để có thể trở thành muối và ánh sáng cho thế gian.

  1. Trở thành những cán bộ đầy sáng kiến và trách nhiệm

Giáo hội làm nên chúng ta, và mỗi một người là một thành phần xây dựng nên Giáo hội. Thánh Thần Chúa linh hoạt trong mỗi người, vì thế mỗi đoàn viên, không những tiếp nhận những giáo huấn của Giáo hội, mà còn học hỏi trong anh chị em mình, đặc biệt trong anh chị em đoàn viên cùng sinh hoạt với mình, đồng thời có bổn phận đưa ra những sáng kiến của mình được Thánh Thần hứng khởi. Việc đào tạo không chỉ nhằm kiện toàn kiến thức cho cá nhân, nhưng làm cho mỗi đoàn viên trở thành những chiến sĩ phục vụ lợi ích của cộng đồng dân chúa.

Ở điểm này cần nhấn mạnh đến tình trạng đặc biệt của người giáo dân việt hải ngoại trong PT

  • Vì các anh chị đoàn viên là những người trưởng thành trong sinh hoạt gia đình, nghề nghiệp, kiến thức khoa học, nhân bản, ít nhất trong một mức độ nào đó. Ngôn ngữ, cách trình bày, tổ chức các khóa đào tạo, các chương trình thần học hàm thụ (chẳng hạn) phải hội nhập một cách linh động vào thực trạng này.
  • Chương trình đào tạo ưu tiên hướng đến những nội dung ăn khớp với các nhu cầu cấp bách của cuộc sống ki-tô hữu trong trần thế, đặc biệt cho hoàn cảnh sống cụ thể của cộng đồng người việt hải ngoại.
  1. Đào tạo đi đôi với sinh hoạt

Vì cả cuộc nhập thể cứu độ của Chúa Ki-tô được gọi là Lời Thiên Chúa, vì gương đào tạo các môn đệ của Chúa Ki-tô là tập hợp một số người Ngài chọn ở với Ngài và sống với nhau, nên việc đào tạo ki-tô hữu, đặc biệt cho người tín hữu giáo dân đã trưởng thành trong khuôn khổ của PT, khó có thể được quan niệm là sở đắc thuần lý thuyết và hình thức các kiến thức về tôn giáo.

Sinh hoạt PT tự nó là một phương thức đào tạo:

Hiến chương ghi: “Xây dựng và phát triển tình liên đới giữa các đoàn viên trong các sinh hoạt khác nhau của đời sống” (I.2)

  • Các đoàn viên ý thức được lời Chúa Ki-tô gọi họ, tập trung họ thành một cộng đồng huynh đệ cụ thể như nhóm tông đồ lúc khởi thủy của Giáo hội. Cuộc sống tình nghĩa, cộng đồng liên đới đó là dấu chỉ linh động, là một bí tích nghĩa là sự hiện diện sống động của sự sống Thiên Chúa giữa trần gian… Thực hiện được cuộc sống huynh đệ này, mỗi đoàn viên vừa lớn lên trong đời sống siêu nhiên, vừa thể hiện việc dấn thân làm chứng Tin Mừng: tạo thành một tế bào đầy năng động, canh tân cuộc sống Giáo hội, cống hiến một mẫu mực cộng đồng yêu thương cho xã hội.
  • Trong các buổi họp thường xuyên, đoàn viên cùng nhau thực hiện một mẫu mực đào tạo cô đọng và toàn diện:
  • Hiệp thông trong Thánh thể
  • Nghe và học Lời Chúa
  • Đào sâu giáo huấn Giáo hội
  • Truy tìm ánh sáng của Chúa Thánh Thần qua các sự kiện đang xảy ra, các dấu chỉ của thời đại.
  • Thực hiện ý Thiên Chúa trong hành động: hoạch định công tác, kiểm điểm đời sống…
  • Khi thực hiện các công tác dấn thân trong các lãnh vực chính trị, văn hóa, xã hội … đoàn viên không những CHO, nhưng NHẬN rất nhiều để kiện toàn nhân cách, có thêm kinh nghiệm hiểu biết về rất nhiều lãnh vực đạo cũng như đời. Đặc biệt đoàn viên sẽ học biết một cách cụ thể về các nội dung phong phú của mầu nhiệm hiệp thông của Giáo hội.
  1. Đào tạo trường kỳ và toàn diện

Kiến thức tôn giáo, tham dự các bí tích và thực hiện Tin Mừng trong cuộc sống xã hội luôn quyện chặt vào nhau. Phúc âm là lương thực hằng ngày: đọc, nghe, học hỏi thấu đáo theo hướng dẫn của Giáo hội, chứng thực ý nghĩa ngay trong cuộc sống của mình, qua các dấu chỉ thời đại.

  1. Các khóa đào tạo đặc biệt

Giáo hội Việt nam, cộng đồng công giáo Việt nam hải ngoại cần có những cán bộ giáo dân trưởng thành và trách nhiệm tích cực xây dựng cộng đồng dân chúa, đặc biệt để dấn thân đưa Tin Mừng vào các sinh hoạt xã hội trần thế. Làm thế nào để có được đội ngũ tiên phong này nếu ngay từ bây giờ cán bộ PT không trang bị cho mình những hiểu biết căn bản về tôn giáo mình, có đủ điều kiện để phân tích, phán đoán, để can đảm đưa ra những sáng kiến… và thực tế hơn cả là góp sức nhận những công tác đa biệt trong cộng đồng, tiếp tay với hàng giáo sĩ và tu sĩ.

Việc ghi tên vào các học viện, phân khoa thần học, theo các khóa hàm thụ do giáo hội địa phương tổ chức là một trong những hướng giải quyết. Nhưng ngôn ngữ, tâm thức, nhu cầu truyền bá Tin Mừng của người Việt cho người Việt lại đòi hỏi những phương thức diễn đạt riêng…

Hoàn cảnh cuộc sống của đoàn viên PT cũng có những hạn chế, đồng thời có những thuận lợi khi PT nỗ lực tìm được một phương thức diễn đạt riêng…

 

Tài Liệu Hướng Dẫn Khóa Đào Tạo Cơ Bản

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *