Il Volto santo. Khuôn mặt thánh.

Lần theo dấu-vết một tấm khăn lạ-lùng. Phần II

Cuộc truy-tìm khăn nguyên – thuỷ

Xem cái khung như thế, có thể nói khăn đã bị đánh cắp. Nhưng, dù có lí-do để qui cho biến-cố 1527, vẫn chưa ai có thể xác-định được khăn thật sự do ai đánh cắp, lúc nào và tại sao.

Mà nếu bị đánh cắp thì giờ đây khăn có còn không và nếu còn thì ở đâu?

Hai tác-giả Pfeiffer và Badde cho hay: Thật may, khăn còn! và hơn nữa nó đang được giữ trong nhà thờ của các tu-sĩ dòng Kapuzin tại làng Manoppello thuộc vùng đồi núi heo-hút Abruzzen, cách Roma về phía đông khoảng hai giờ lái xe. Manoppello nằm trên núi nhìn ra biển Địa-trung phía tây, trên đường hàng-hải nối liền các vùng cận đông (Hi-lạp, Konstantinopel). Tấm khăn lạ đã xuất-hiện nơi đây từ 500 (hay 400) năm nay. Người dân vùng này gọi nó là “Il volto santo”: Khuôn mặt thánh (trùng với tên gọi như đã ghi ở mặt sau của bản sao lưu-trữ tại dòng Tên). Ai mang tới, lúc nào, không rõ. Người dân ở đây kể: một thiên-thần đã mang khăn đến trao cho một dân làng và người này đã đặt nó trên chiếc ghế đá trên con đường chính của làng. Ghế đá nay hãy còn. Hồ-sơ hành-chánh của làng còn lưu-giữ một tài-liệu trước-bạ lập năm 1645 xác-nhận tấm khăn đã có mặt ở làng từ trước rất lâu, mãi tận năm 1506 lận!

Giáo-sư Pfeiffer cho đây là một tài-liệu giả-mạo cố-tình lập ra để giữ tấm khăn, trước lệnh của Giáo-chủ phải trả về Rôma tất-cả những bản sao của tấm khăn, nếu không thì bị vạ tuyệt-thông. Linh-mục Pfeiffer đoán rằng chiếc khăn đã được chuồn về Manoppello, trước cơn thịnh-nộ của Giáo-chủ. Cũng theo sự tìm hiểu của ông, suốt thế-kỉ 16 rõ-ràng khăn vẫn còn hiện-diện tại Rôma, vì mãi cho tới năm 1601 mỗi năm một lần hình vẫn được chưng ra (Nhưng hình chưng ra đó có còn là hình nguyên-thuỷ nữa không?). Chi-tiết về thời-gian này là điểm chưa được đồng-nhất giữa hai tác-giả Pfeiffer và Badde. Pfeiffer bảo khăn bị đánh cắp năm 1604; Badde thì bảo mất trong đợt Sacco di Roma.

Và Manoppello heo-hút quả là một chốn thuận-lợi cho việc dấu khăn. Nhưng đây cũng chỉ là một giả-thuyết.

Vào tuần-lễ thứ năm mùa chay (trong tháng năm), các linh-mục dòng mở tủ đựng khăn đặt trên cung thánh mang ra đi rước khắp làng. Hàng chục ngàn khách hành-hương chen-chúc nhau chiêm-ngưỡng sự biến hình lạ-lùng của khuôn mặt thánh trước ánh nắng mùa xuân. Có người kể, gương mặt trong khăn thay hình đổi dạng mỗi khi có đám mây kéo tới hay đoàn rước đi qua một ngõ râm; họ bảo thấy gương mặt sống-động như nhìn một một người sống.

Mà đúhinh manopella mau 2ng vậy. Khi bước lên cung thánh, mở cánh cửa tủ ra, ta thấy một tấm khăn ép trong một khung nạm vàng. Khăn trong suốt, mềm như tơ, lớn không hơn một chiếc khăn tay với chiều cao 24 cm, rộng 17 cm; hai bên chiều rộng xem ra như bị cắt xén bớt. Khổ này xem ra phù-hợp với khuông nguyên-thuỷ (25 x 25 cm) còn giữ trong bảo-tàng. Trên khăn hiện lên một khuôn mặt, đây đó có chấm vết và thương-tích, gương mặt một người đàn ông tóc dài che tai, mũi dài, có râu mép và râu cằm và giữa trán có một lọn tóc đổ xuống. Miệng hơi mở ra. Và đôi mắt. Đôi mắt mở lớn với nét xa-xôi diệu-vợi, không nhìn vào ai cả; như mắt của một người vừa ốm dậy. Nói theo ngôn-ngữ phật giáo, đôi mắt của một người đã ngộ; theo ngôn-ngữ kitô giáo, của kẻ vừa phục-sinh. Gương mặt trên khăn này cho tới nay không giống với bất cứ một khuôn mặt do người vẽ nào khác. Tuỳ ánh sáng và tư-thế, hình thay-đổi màu: vàng, đồng, chì, bạc, xám sậm, xám đỏ, xám đá, các màu trộn lẫn như kiểu cánh bướm. Nhưng khi quan-sát bằng kính hiển-vi thì lại hoàn-toàn không thấy dấu-vết của một loại màu sơn nào cả. Mà cũng không phải là hình chụp, vì con ngươi mắt phải hơi chệch lên phía trên, một tư-thế không thể có được trong một hình chụp.

Nguồn sáng trong tủ có thể điều-chỉnh tùy ý. Khi ta liên-tiếp bật tắt các ngọn đèn nhỏ trong tủ, ta có cảm-tưởng khuôn mặt chuyển-động. Bật ngọn đèn từ phía trước chiếu tới, gương mặt mang vẻ ngạc-nhiên nhiều hơn và có màu xám đậm, đôi mắt như nhìn vào một điểm nào đó và những nếp gấp của khăn hiện rõ. Khi ngọn đèn phía trước và phía sau cùng sáng, thì trán, chung quanh mắt và cằm hơi ứng đỏ, như bị rám nắng; và môi giờ cũng đỏ tươi lên; khuôn mặt có màu-sắc; đây là tư-thế tốt nhất cho việc chụp hình. Nếu chỉ bật sáng ngọn đèn phía sau mà thôi, thì đôi môi chớm ươm một nụ cười mỉm và người xem có cảm-tưởng người trong khăn đang thầm-thì gì đó với mình. Khi cánh cửa nhà thờ mở ra và ánh sáng từ ngoài tràn vào, thì khuôn mặt trong khăn biến mất, mất hẳn. Chỉ còn lại màu trắng mịn-màng và trong suốt như tơ. Biến hình, đổi dạng theo ánh sáng và không-gian, quả là chuyện lạ.

hinh manopelleo 3Khi gặp ánh sáng chóa vào, hình biến mất. Martin Luther, như đã đề-cập ở trên, có lẽ đã nhìn tấm khăn nguyên-thuỷ và trong một ngày nhiều ánh sáng nên không thấy gì. Tiến-sĩ Luther đoạn-giao với Rôma từ năm 1520 và mất 1546, nghĩa là từ 1520 ông không còn tới Rôma nữa, và khăn Veronica biến mất sớm nhất cũng là từ năm 1527, sau đợt cướp phá của lính Đức. Điều đó có nghĩa là Luther đã nhìn thấy khăn nguyên-thuỷ (khăn này lúc đó hãy còn nằm trong khung gỗ, như ông cho biết) và đã không thấy hình gì vì hôm đó hẳn trời nhiều ánh sáng.

Roma hoàn-toàn im-lặng trước những khám-phá và nghi-thuyết đầy sóng gió đó. Góp ý về nét đặc-biệt của khăn Manoppello, giáo-sư Arnold Nesselrath, giám-đốc viện bảo-tàng Vatican, cho hay không phải chỉ riêng khăn Manoppello mới có cái mịn-màng và trong như thế. Loại vải đó ngày xưa nhiều nơi có thể dệt được. Ông cho biết thêm, tấm khăn nổi tiếng mà Dürer (“Ecce homo”) gởi cho Raffael, được vẽ hình lên cả hai mặt; ý ông muốn nói rằng có-lẽ vì thế mà ta thấy hình thay-đổi nếu ta thay-đổi nguồn sáng, từ trước chiếu tới hay từ sau chiếu ra. Cũng trong ý-hướng đó, giáo-sư Walter Brandmüller, chủ-tịch Uỷ-ban lịch-sử của Vatican, nhắc lại chuyện tấm ảnh chân-dung tự vẽ của Dürer, đồng thời đề-cập tới một bài viết mới đây của hai nhà nghiên-cứu lịch-sử nghệ-thuật Roberto Falcinelli và Piero Vercelli: Hai nhà sử này nêu ra nghi-vấn, phải chăng khăn Manoppello chính là khăn Dürer, và như vậy, từ 400 năm nay dân Manoppello thay vì thờ Chúa thì đã thờ chính Dürer! Cũng chỉ là nghi-vấn và giả-thuyết. Cứ nhìn kĩ người trong tranh Manoppello và so-sánh với “Ecce homo” của Dürer, ta thấy hai gương mặt khó lẫn-lộn.

Roma hoàn-toàn im-lặng trước những khám-phá về tấm khăn. Những vị  trách-nhiệm ở giáo-triều tỏ ra bối-rối về những hệ-quả có thể xẩy ra. “Trước sau cũng chỉ mấy người Đức tạo rắc-rối!”, người ta đã phàn-nàn như thế.  Dù vậy, giáo-chủ Biển-đức XVI, bản-thân cũng là một người Đức, vẫn quyết-định tháng 5 này, dịp rước khăn hàng năm, sẽ hành-hương tới Manop-pello để được chiêm-ngưỡng thánh nhan trong khăn. Trước đây, hồng-y Meisner, tổng giám-mục giáo-phận Koeln, Đức, cũng đã tới Manoppello và tỏ ra rất cảm-động.

Riêng đối với dân Manoppello, khăn đã gắn liền với cuộc sống của họ và đã trở thành vật gia-bảo của làng. Giả như giờ đây thiên-thần ngày xưa có hiện về xin lấy lại khăn thì có-lẽ họ cũng khó mà chấp-nhận.

Cấu-tạo khăn Manoppello

Để hiểu thêm khăn Manoppello, hãy tới thăm chị Blandina Paschalis Schlömer . Chị nguyên là nữ-tu dòng chiêm-niệm Trapist ở Đức, đã cởi áo, bỏ dòng về Manoppello sống như một ẩn-sĩ trong một căn gác nhỏ trên sườn núi, để dành nhiều giờ cho việc thăm-viếng và chuyện-trò cùng người trong tranh. Chị muốn về đây để chứng-nghiệm phép lạ Manoppello. Chị dùng máy điện-toán so-sánh gương mặt người trong khăn liệm Turino và người trong tranh Manoppello để chứng-minh đó là khuôn mặt của cùng một người. Mà quả thật, mọi đo-đạc khoa-học cho tới lúc này cho thấy kích-thước trên hai hình là của cùng một khuôn mặt, dù hai tấm khăn với hai cỡ hoàn-toàn khác nhau . Căn phòng chị Blandina treo đầy hình cũng chỉ của Một người. Riêng tranh Manoppello có ba tấm với ba màu khác nhau. Khi Büscher tới thăm, chị vừa họa xong một tấm Manoppello (chị cũng là người giỏi hoạ ảnh tượng) và đang đóng thùng gởi cho tân giáo-chủ đồng-hương Biển-đức XVI.

Một cách từ-tốn, chị mang ra một bao thư và một vỏ sò màu cam: Này, anh thấy chứ, đây là Byssus! Vừa nói chị vừa mở bao, rút ra một nhúm sợi tơ và kể tiếp: Trong Thời cổ, người ta dùng thứ sợi trong suốt và co dãn này để dệt những tấm khăn vô giá cho các ông hoàng bà chúa. Một loại sò rất hiếm trong biển Địa-trung, sò Byssus, lớn cở 70 đến 80 phân tây, dùng loại sợi này để bám vào đáy biển. Chỉ mới vài ba năm trở lại đây thôi, giới khoa-học mới khám-phá ra kĩ-thuật này. Hiện nay trên thế-giới có lẽ chỉ có duy nhất một người đàn bà trên một hòn đảo nhỏ gần đảo Sardinien biết dệt loại sợi này. Và Blandina đã mời được chị ta tới. Chị người Sardinien cho hay mẹ chị đã truyền nghề và cả bài hát cổ-xưa đi kèm với công-việc dệt cho chị. Mẹ truyền cho con gái và cứ thế tiếp-tục lần-lượt sau hàng ngàn năm nay tới lượt chị. Để có sợi Byssus, chị phải lặn xuống biển sâu tới 8 mét để tìm sò. Mang lên phơi cho ráo, lấy lược chải sạch, lấy nước chanh tẩy trắng sợi và rửa cho sạch muối. Nhưng chẳng bao giờ tẩy được được hết muối, nên sợi Byssus không ăn màu, có vẽ gì lên thì rồi màu cũng sẽ phai. Và cuối cùng ta có được từng nắm sợi mềm-mại như tơ và nhẹ như lông, mỗi sợi đường-kính nhỏ bằng một phần tư sợi tóc người. Chị Blandina cầm nắm tơ đưa ra ánh sáng, tơ ánh lên như vàng, như màu vàng nơi tấm khăn.

Đứng trước khăn Manop pello, chị người Sardinien bảo ngay: khăn được dệt bằng sợi Byssus! Bởi vì chỉ có Byssus trước ánh sáng mới trở nên trong suốt như pha-lê, như đặc-tính hiện có nơi khăn Manop-pello. Trong khi đó hai góc phía trên khăn gặp sáng thì xám lại, đó là những chỗ không biết vào thời nào đã được người ta vá bằng sợi tơ thường. Điều quan-trọng: Byssus không ăn màu. Nếu quả đúng như thế thì hình người trong tranh không phải là hình vẽ, mà được thấm in lên một cách nào đó. Nhưng muốn chắc-chắn, cần phải thử-nghiệm hoá chất để xem có phải thật Byssus không đã. Blandina không ao-ước gì hơn chuyện này, song lại rụt-rè ngay: Nhưng bàn tay nhớp-nhúa của ta không thể sờ lên vật linh-thiêng như thế được! Các linh-mục Kapuzin cũng chần- chừ: Mà rồi sẽ tới đâu? Hãy cứ để cho sự lạ-lùng bao-toả lấy bí-mật!

Trời vào hoàng-hôn. Câu chuyện chưa xong, nhưng Blandina vội khoác áo choàng, mang chiếc túi đeo lưng lên vai, cầm gậy từ-giã khách. Đã tới giờ. Ngày nào cũng như ngày nào, chị phải tới gặp-gỡ, chuyện-trò và lặng ngắm hàng giờ người trong tranh, rồi với giọng thánh-thót âm-vang một mình cất lên bài ca Magnificat quen-thuộc “Salve Regina, Mater mise-ricordiae, salve”. Mặc cho bên ngoài trời chiều về đêm đang đổ mưa, giông bão hay tuyết đổ.

Phạm Hồng-Lam

Augsburg, 07.03.06

 

 

 

Cuộc truy tìm tấm khăn Vê-rô-ni-ca. Phần II

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *