© Phong-trào Giáo-dân Việt-nam Hải-ngoại

Bản dịch tiếng Việt, ngày 12.02.2006

 

 

Thông-điệp

THIÊN-CHÚA LÀ TÌNH YÊU

của giáo tông

BIỂN-ĐỨC XVI

gởi các giám-mục, các linh-mục và phó-tế, các tu-sĩ nam nữ, và tất-cả kitô-hữu

về tình yêu kitô giáo

 

Dẫn-nhập

1.

„Chúa là tình yêu, và ai ở trong tình yêu, kẻ đó ở trong Chúa, và Chúa ở lại với họ“ (1 Yo 4, 16). Lời đó trong thư thứ nhất của thánh Gioan cho thấy hết sức rõ-ràng tâm điểm đức tin kitô giáo, cho thấy hình-ảnh Thiên-chúa của Kitô giáo và cả hình-ảnh con người bắt nguồn từ đó cũng như con đường sống của họ. Ngoài ra, qua đoạn đó, thánh Gioan cũng cho ta một thứ công-thức sống kitô-hữu: „Chúng tôi đã nhận ra tình yêu Thiên-chúa gởi đến cho chúng tôi và chúng tôi đã tin vào tình yêu đó“ (xem 4, 16).

 

Chúng tôi đã tin vào tình yêu đó: Kitô-hữu có thể nói lên cái quyết-định nền-tảng của đời mình như thế. Cuộc đời kitô-hữu khởi đầu không phải với một quyết-tâm đạo-đức hay với một ý-tưởng lớn-lao nào, nhưng bằng cuộc gặp-gỡ một biến-cố, một con người đã mở ra cho đời ta một chân trời mới, và nhờ đó dẫn ta về một hướng sống quyết-định. Phúc-âm Gioan đã diễn-tả biến-cố đó như sau: „Thiên-chúa đã yêu thế-gian quá đỗi, nên đã cho đi con một mình, để ai tin vào con Ngài…  thì sẽ được sống đời-đời“ (3, 16). Với việc công-nhận tình yêu là tâm điểm, đức tin kitô giáo đã chấp-nhận nội-dung căn-bản của đức tin do-thái, và đồng thời đã mở ra cho tình yêu đó những chiều-kích sâu rộng mới. Vì rằng tín-hữu Do-thái vẫn ngày-ngày cầu nguyện với câu trích từ sách Thứ-luật, qua đó nói lên một cách tóm-tắt tâm điểm cuộc sống đạo của họ: „Israel, hãy nghe! Gia-vê, Thiên-chúa chúng ta, là đấng độc-nhất. Vì thế ngươi hãy yêu Ngài hết lòng, hết trí và hết sức“ (6, 4-5). Đức Jesu đã nối lời răn yêu Chúa đó vào lời răn yêu người trong sách Levi: „Ngươi hãy yêu người bên cạnh như chính mình ngươi“ (19, 18) để kết thành một sứ-vụ duy-nhất (xem Mc 12, 29-31). Bởi vì Thiên-chúa đã yêu ta trước (xem 1 Yo 4, 10), nên tình yêu không còn chỉ là một „giới răn“, nhưng là sự đáp trả lại quà tặng yêu thương của Chúa đã trao cho ta.

 

Trong một thế-giới thỉnh-thoảng người ta vẫn nối tên Chúa với việc trả thù và ngay cả dùng tên Ngài để kêu-gào thù-hận và bạo-lực, thì đây là một sứ-điệp mang tính thời-sự cao và rất thực-tiễn.

Vì thế trong thông-điệp đầu-tiên này tôi muốn nói về tình yêu, tình yêu mà Chúa đã tặng cho ta và ta cần phải trao đi tiếp. Đó là nội-dung của hai phần lớn trong thông-điệp này, chúng có liên-hệ mật-thiết với nhau. Phần đầu mang tính suy-tư nhiều hơn, vì tôi muốn – mở đầu cho sứ-vụ giáo-chủ của tôi – làm sáng-tỏ một vài điểm căn-bản về tình yêu mà Chúa đã trao ban cho con người một cách nhiệm-mầu và nhưng-không, đồng thời muốn chỉ ra sự liên-hệ nội-tại giữa tình Chúa đó với thực-tại tình yêu của con người. Phần hai cụ-thể hơn, vì nó trình-bày việc thực-thi giới-răn tình yêu tha-nhân của Giáo-hội. Đề-tài như thế rất rộng, mục-đích của thông-điệp này không nhắm tới việc giải-quyết tất-cả một cách rốt-ráo. Mong-ước của tôi là khai-triển một số yếu-tố nền-tảng để khơi dậy một sự sống-động mới nơi thế-giới qua việc đáp-trả thực-tế của con người trước tình yêu Thiên-chúa.

 

 

Phần Một

Tính hợp-nhất của tình yêu trong cuộc tạo-dựng và trong lịch-sử cứu-rỗi

 

Vấn-đề ngôn-ngữ

 

2.

Tình Chúa yêu ta là một vấn-nạn nền-tảng của cuộc sống và từ đó đặt ra những câu hỏi quyết-liệt: Chúa là ai và chính chúng ta là ai. Ở đây, chúng ta thoạt-tiên gặp phải một trở-ngại từ-ngữ. Ngày nay, „tình yêu“ là một trong những từ được sử-dụng nhiều nhất và cũng là một từ bị lạm-dụng nhiều nhất, nó được gán cho muôn thứ nghĩa khác nhau. Mặc dù đề-tài thông-điệp này tập-chú vào nghĩa và cách thực-hành tình yêu theo lối hiểu của Kinh-thánh và của truyền-thống Giáo-hội, ta cũng không thể không tìm hiểu ý nghĩa của nó hàm-chứa trong các nền văn-hoá khác nhau.

 

Trước hết là nét muôn mặt của „tình yêu“: Chúng ta nói tới tình yêu tổ-quốc, tình yêu nghề-nghiệp, tình bạn, tình yêu công-việc, tình cha mẹ con cái, tình anh chị em, tình bà-con xóm-giềng, tình yêu tha-nhân và tình yêu Chúa. Nhưng trong toàn-bộ cái muôn mặt đó nổi lên tình yêu nam nữ như là thứ tình uyên-nguyên và uy-lực nhất, trong đó thể-xác và tâm-hồn tác-động bện chặt vào nhau, nó mở ra cho con người hứa-hẹn hạnh-phúc, và mọi thứ tình khác đứng gần bên nó, thoạt nhìn, đều trở nên mờ-nhạt. Câu hỏi đặt ra: Liệu các loại-hình tình yêu đó, bằng cách này hay cách khác, có lệ-thuộc vào nhau không, và tình yêu – dù biểu-hiện dưới nhiều dạng khác nhau – có phải là một thể thống-nhất hay không, hay là chúng ta đã dùng cùng một từ-ngữ đó để chỉ nhiều thực-tại khác nhau?

 

„Eros“ và „Agape“ – khác-biệt và hợp-nhất

 

3.

Tình yêu nam nữ là thứ tình không nẩy sinh từ lí-trí và lòng muốn, nhưng có sức khống-chế con người. Người Hi-lạp xưa gọi nó là Eros. Nên biết, chữ Eros được nhắc đến hai lần trong Cựu-ước, nó hoàn-toàn không còn xuất-hiện nữa trong Tân-ước: Trong ba từ diễn-tả tình yêu trong tiếng Hi-lạp – Eros, Philia (tình bạn) và Agape – các sách Tân-ước chỉ dùng từ Agape, một từ rất được ít dùng trong thường-ngữ Hi-lạp. Ý-niệm tình bạn (Philia) được thánh-sử Gioan dùng và đào sâu ý nghĩa để diễn-tả tình đức Jesu đối với các môn-đệ. Khi đẩy từ Eros ra lề và dùng từ Agape để nói lên một cái nhìn mới về tình yêu, Kitô giáo rõ-ràng đã tạo nên một cái mới nền-tảng cho tình yêu. Các nhà phê-bình chống Kitô giáo kể từ thời Ánh sáng trở đi, mà giọng-điệu ngày càng tỏ ra gay-gắt hơn, đánh giá cái mới này hoàn-toàn tiêu-cực. Friedrich Nietzsche bảo rằng Kitô giáo đã đánh thuốc độc Eros; Eros đã không chết vì thuốc đó, nhưng đã biến thành một cái gì xấu-xa [1]. Với phát-biểu đó, nhà triết-học Đức đã nói lên cái cảm-nhận khá phổ-biến: Phải chăng Giáo-hội dùng giới-răn và cấm-đoán để phá hư đi cái đẹp nhất của cuộc sống? Phải chăng Giáo-hội đã dựng bảng cấm trước thú vui mà Tạo-hoá đã ban cho con người để họ đạt hạnh-phúc và qua đó họ nếm được phần nào cái hạnh-phúc của Thiên-chúa?

4.

Nhưng có thật vậy không? Có thật Kitô giáo đã phá hư Eros? Ta hãy nhìn vào thế-giới tiền Kitô giáo. Người Hi-lạp – cũng có liên-hệ bà-con với các văn-hoá khác – thoạt tiên nhìn Eros như là sự ngất-ngây, như lực khống-chế của lí-trí đến từ một „nổi giận của thần-linh“, nó lôi con người ra khỏi ngõ hẹp của thân-phận và giúp nó đạt tới hạnh-phúc tuyệt-vời nhờ sự khống-chế của sức mạnh thần-linh đó. Mọi quyền-lực khác trên trời dưới đất vì thế trở thành thứ yếu. „Omnia vincit Amor“,  Virgil nói thế trong Bucolia „Tình yêu thắng mọi sự“. Và ông thêm: „Et nos cedamus amori“ – „Cả chúng ta nữa cũng chịu thua tình yêu“ [2].  Thái-độ này biểu-hiện qua tục thờ phong-nhiêu (phồn-thực) trong các tôn-giáo, mà chuyện đĩ-điếm „linh-thiêng“ ta thấy nhan-nhản trong nhiều đền thờ cũng là một thành-phần trong đó. Như vậy, Eros được ca-tụng như là sức mạnh thần-thánh, như là sự kết-hợp với thần-linh.

 

Kinh-thánh Cựu-ước cực-lực chống lại loại tôn-giáo đó, coi đó là cơn cám-dỗ quyền-năng phản lại niềm tin vào một Thiên-chúa duy-nhất và là một thứ tôn-giáo thoái-hoá. Ở đây, Cựu-ước rõ-ràng không khước-từ bản thân Eros, nhưng chống lại sự biến chất phá-hoại của nó. Bởi vì việc thần-thánh hoá Eros một cách sai-trái như ta thấy ở đây đã cướp đi phẩm-giá và chất người của nó. Các cô gái điếm có nhiệm-vụ tạo khoái-lạc thần-linh trong các ngôi đền thực ra không được đối-xử như những con người và những nhân-vị, song chỉ là những đồ-vật dùng để tạo „điên-loạn thần-linh“ mà thôi. Họ thật ra không phải là những nữ thần, nhưng là những con người bị lạm-dụng. Vì vậy cái Eros hoan-lạc và vô-độ đó không đưa con người „xuất-thần“ lên thần-linh, nhưng trái lại đẩy họ xuống vực sâu. Như vậy, Eros cần phải được điều-hướng và thanh-lọc, để nó không phải giúp con người có được chút khoái-lạc giây-lát, nhưng giúp họ nhấm-nháp được phần nào đỉnh cao của cuộc sống – cái hạnh-phúc mong-đợi của cả cuộc đời mỗi chúng ta.

 

5.

Cái nhìn ngắn-gọn về bức tranh Eros trong lịch-sử và hiện-tại cho thấy hai điểm. Điểm thứ nhất, tình yêu có liên-hệ với thần-linh một cách nào đó: Nó hứa-hẹn cái đời-đời, bất tận – một cái gì lớn hơn và hoàn-toàn khác hơn cái hằng ngày của cuộc sống chúng ta. Nhưng đồng thời ta cũng biết con đường dẫn tới đích-điểm đó không dễ tìm thấy, nếu cứ để mặc cho bản-năng khống-chế mình. Cần những quá-trình thanh-lọc và trưởng-thành, các quá-trình đó có thể dẫn ta đi qua con đường hãm mình. Đó không phải là khước-từ Eros, không phải là „đánh thuốc độc“, nhưng là để chữa lành giúp nó đạt tới cái cao-cả thật-sự của nó.

 

Sở-dĩ như vậy trước hết là vì bản-chất con người bao gồm thể-xác lẫn tinh-thần. Con người trở thành chính mình thật-sự khi đạt được sự thống-nhất nội-tại giữa tinh-thần và thể-xác; có được sự hợp-nhất đó thì mới vượt thắng được thách-đố của Eros. Khi con người muốn mình chỉ là tinh-thần không thôi và coi thường thể-xác như chỉ là một thứ di-sản thú-vật, lúc đó phẩm-giá của tinh-thần lẫn thể-xác sẽ mất. Và khi họ chối-từ tinh-thần, chỉ còn coi thể-xác là thực-tại duy-nhất, lúc đó họ cũng đánh mất chiều-kích cao-cả của mình. Ông Gassendi, một môn-đệ của phái khắc-kỉ, trêu-chọc Descartes khi gọi ông này: „Này tinh-thần“. Và Descartes đã trả lời lại „Này thể-xác!“ [3]. Không phải tinh-thần yêu hay thể-xác yêu, mà là con người, nhân-vị yêu như một thụ-tạo duy-nhất và thống-nhất, trong đó bao-gồm cả tinh-thần lẫn thể-xác. Chỉ khi cả hai thực-sự trở thành một, lúc đó con người mới là chính mình. Chỉ như thế, tình yêu – Eros – mới trưởng-thành đạt tới chiều-kích cao-cả thật của nó.

 

Ngày nay, người ta tố-cáo Giáo-hội trong quá-khứ đã nhiều lần nhiều cách có thái-độ thù-nghịch với thể-xác, và những khuynh-hướng kiểu này xưa nay vẫn không thiếu. Nhưng cái lối ca-ngợi thể-xác, như ta thấy ngày nay, là nhầm-lẫn. Eros bị hạ xuống chỉ còn là „hành-vi tính-dục“, trở thành hàng-hoá, thành thuần-tuý „đồ-vật“ có thể mua bán, và hơn nữa, chính con người như thế cũng trở thành hàng-hoá. Đó hẳn không phải cách chấp-nhận đại-độ của con người đối với thân-xác mình. Nhưng trái lại, họ coi thể-xác và tính-dục thực chất chỉ là vật-chất để họ sử-dụng và lợi-dụng tuỳ ý. Người ta không xem hai thứ đó như là vùng không-gian thể-hiện tự-do của mình, nhưng như là một cái gì để họ cố-gắng làm sao vừa thụ-hưởng vừa không nguy-hiểm tuỳ theo cách của họ. Thực-tế, chúng ta đang đứng trước cảnh hạ giá thân-xác con người: thân-xác này không còn được hội-nhập vào khung tự-do toàn-diện của cuộc sống của ta nữa, nó không còn là phản-ảnh sống-động của con người toàn-vẹn của ta nữa, nhưng bị đẩy vào phạm-vi thuần-tuý sinh-vật. Việc tụng-ca thể-xác giả-tạo đó có thể bật ngược thành lòng thù-hận thể-xác rất nhanh. Đức tin kitô giáo, trái lại, luôn coi con người là hữu-thể thống-nhất gồm tinh-thần và vật-chất tác-động lên nhau và nhờ đó cả hai luôn có được sự cao-quý mới.  Vâng, Eros kéo ta tới lãnh-vực thần-linh, đưa ta vượt lên trên chính ta, nhưng cũng chính vì vậy nó cần một con đường thăng tiến, con đường hãm mình, thanh-lọc và chữa-trị.

 

6.

Con đường thăng tiến và thanh-lọc đó sẽ như thế nào trên thực-tế? Tình yêu phải được sống ra sao để đáp-ứng được những hứa-hẹn của con người và của Thiên-chúa? Ta có thể tìm thấy những chỉ-dẫn đầu-tiên quan-trọng trong sách Diệu-ca, một trong những sách của Cựu-ước không xa-lạ gì với các nhà thần-bí. Theo quan-điểm chung hiện nay, các bài thơ trong sách đó nguyên là những bài thơ tình yêu, có lẽ người xưa soạn cho một đám cưới do-thái để ca-ngợi tình yêu đôi-lứa. Một chi-tiết rất bổ-ích cho chúng ta là sách dùng hai từ khác nhau để chỉ tình yêu. Đầu-tiên là chữ „dodim“ – từ ở số nhiều, muốn nói đến một tình yêu đang kiếm-tìm chưa rõ-ràng, chắc-chắn. Chữ này sau đó được thế bằng từ „ahaba“, trong Kinh-thánh Cựu-ước nó được dịch ra tiếng Hi-lạp bằng một từ gần giống với „Agape“, và – như ta thấy – đó chính là từ Kinh-thánh muốn dùng để diễn-tả tình yêu. Đối lại với mối tình mơ-hồ đang đi tìm, giờ đây tình yêu đã được xác-định, qua việc khám-phá ra kẻ khác và vì thế yếu-tố ích-kỉ, một yếu-tố trước đó vẫn bàng-bạc, nay biến mất. Tình yêu giờ đây có nghĩa là chăm-lo cho kẻ khác và vì kẻ khác. Nó không muốn chỉ riêng cho mình nó nữa – chỉ biết trầm mình trong cơn say hoan-lạc –‚ nhưng muốn điều tốt cho người mình yêu: nó chấp-nhận từ-bỏ và sẵn-sàng trở thành kẻ hi-sinh.

 

Con đường thăng tiến và thanh-lọc nội-dung tình yêu cũng gồm cả yếu-tố dứt-khoát, dứt-khoát theo hai nghĩa: duy-nhất – „chỉ có một người này mà thôi“ – và „cho mãi-mãi“. Tình yêu bao-hàm cả cuộc sống trong mọi chiều-kích của nó, kể cả chiều-kích thời-gian. Không thể khác được, là vì hứa-hẹn của tình yêu là chung-cuộc: Tình yêu hướng tới đời-đời. Vâng, tình yêu là  „xuất-thần“, nhưng xuất-thần không phải trong nghĩa khoái cảm giây-lát, nhưng như là con đường luôn mở để cái Tôi khép kín của ta mở ra, chấp-nhận hi-sinh và nhờ thế gặp được chính mình, và tất-nhiên, gặp được Chúa: „Ai tìm cách giữ cuộc sống mình thì sẽ mất, ai đánh mất thì sẽ giữ được nó“ (Lc 17, 33). Câu nói đó của đức Jesu ta gặp đi gặp lại với chút thay-đổi trong nhiều đoạn Phúc-âm  (xem Mt 10, 39; 16, 25; Mc 8, 35; Lc 9, 24; Yo 12, 25). Với những lời đó, đức Jesu tả cho ta thấy con đường của chính Ngài, con đường đi qua thánh-giá dẫn tới phục-sinh, con đường hạt cải rơi xuống đất, chết đi và nhờ đó sinh nhiều trái; nhưng qua đó, Ngài cũng nói lên bản-chất của tình yêu và của cả cuộc đời con người, khởi đi từ những hi-sinh của Ngài và từ tình yêu của Ngài đã được hoàn-thành qua hi-sinh đó.

 

7.

Những suy-tư thoạt-tiên hơi nặng tính triết-lí của chúng ta về bản-chất tình yêu giờ đây đương nhiên dẫn ta về với đức tin trong Kinh-thánh. Câu hỏi đầu tiên đặt ra là, liệu những ý nghĩa khác nhau, ngay cả đối-chọi nhau, của chữ tình yêu có hé cho chúng ta thấy có một nội-dung chung nào đó giữa chúng không, hay chúng là những ý-niệm độc-lập phải đứng gần bên nhau; hay đặc-biệt là câu hỏi, sứ-điệp tình yêu được loan-báo trong Kinh-thánh và truyền-thống Giáo-hội liệu có chút liên-hệ gì với kinh-nghiệm tình yêu của con người không hay là ngược lại. Ở đây, chúng ta đối-diện với hai từ căn-bản, Eros như là tình yêu „đời (thế-gian)“ và Agape là thứ tình yêu được hình-thành và tôi-luyện trong đức tin. Cả hai cũng thường được dùng như là thứ tình yêu „đi lên“ hay „đi xuống“ đối đầu nhau; ngoài ra còn có các phân-chia khác cũng bà-con với cặp trên như tình yêu thèm-muốn (amor concupiscentiae) và tình yêu hiến-tặng (amor benevolentiae), hoặc đôi khi người ta cũng nói đến thứ tình yêu vị lợi.

 

Trong vòng thảo-luận thần và triết-học người ta thường đẩy những khác-biệt trên thành đối-lập: Tình yêu kitô giáo là thứ tình đi xuống, hiến-tặng, là Agape; tình yêu phi kitô giáo, đặc-biệt trong văn-hoá Hi-lạp, ngược lại là tình đi lên, thèm-muốn nhục-dục, thứ tình thấm-đượm Eros. Nếu người ta triệt-để hoá sự đối-lập đó thì bản-chất của Kitô giáo lúc đó sẽ tách-rời khỏi cuộc sống nền-tảng con người; nó trở thành một thế-giới đặc-biệt, xem ra thì tuyệt, nhưng chẳng còn liên-hệ nào nữa với toàn-bộ cuộc sống con người. Trong thực-tế, tình yêu đi lên Eros và tình yêu đi xuống Agape không bao giờ hoàn-toàn tách-biệt nhau. Dù mang những chiều-kích khác nhau, khi cả hai càng xuất-hiện thống-nhất trong một thực-tại tình yêu, khi đó bản-chất thật của tình yêu càng được thể-hiện. Thoạt đầu, Eros đặc-biệt mang tính thèm-muốn, đi lên – là vì mê-hoặc trước hứa-hẹn to-lớn về hạnh-phúc -, nhưng càng tiến gần người khác nó càng bớt vị-kỉ, càng nghĩ tới hạnh-phúc kẻ khác, càng lo-lắng cho họ, muốn hiến-tặng cho họ, muốn hiện-diện vì họ. Lúc đó, yếu-tố Agape len vào trong nó, vì nếu không, Eros sẽ tiêu-hư và sẽ mất chính ngay bản-chất của nó. Ngược lại, con người cũng không thể sống chỉ bằng tình yêu hiến-tặng, đi xuống. Con người không thể luôn cho đi, nó cũng phải được nhận lại. Ai muốn cho đi tình yêu, chính người đó phải được nhận về tình yêu. Thật vậy, như Chúa Kitô đã nói với ta, con người có thể trở thành nguồn suối tuôn chảy nước sự sống (xem Yo 7, 37-38). Nhưng để trở thành nguồn suối đó, chính người đó phải uống từ nguồn nước nguyên-thuỷ là Chúa Jesu Kitô, là đấng tuôn trào tình yêu Thiên-chúa từ trái tim mở rộng của Ngài (xem Yo 19, 34).

 

Các giáo-phụ đã thấy, bằng nhiều cách, mối liên-kết gắn-bó giữa tình yêu đi lên, đi tìm Chúa của Eros và tình yêu đi xuống, tiếp-tục trao tặng của Agape trong câu chuyện biểu-tượng về cái thang  Jacob. Kinh-thánh kể, tổ-phụ Jacob đã thấy trong giấc mơ, khi đang gối đầu ngủ trên một mảnh đá, một cây thang nối liền trời với đất và các thiên-thần đang lên xuống nơi thang đó (xem Kn 28, Yo 1, 51). Hình-ảnh giấc mơ đó đã được đại giáo-chủ Gregorio diễn-giải trong tác-phẩm Qui-chế mục-vụ của ngài. Ngài nói, người mục-tử chân-chính phải biết đắm mình trong chiêm-niệm. Vì có như thế họ mới cảm được từ đáy lòng những khốn-cùng của kẻ khác như là của chính mình: „per pietatis viscera in se infirmitatem caeterorum transferat“ [4]. Ở đây, thánh Gregorio cũng đề-cập tới thánh Phaolô, người đã được kéo lên tới những bí-mật lớn-lao nhất của Chúa và chính từ đó, khi trở xuống, ngài đã có thể làm được mọi chuỵên cho mọi người (xem 2 Co 12, 2-4; 1 Co 9, 22). Ngài còn đưa ra thí-dụ tổ-phụ Mai-sen, người vẫn luôn ra vào tấm lều thánh để nói chuyện tay đôi với Chúa, để rồi khi rời Chúa quay trở lại có thể phục-vụ dân. Bên trong [lều] ông được kéo lên bởi những chiêm-ngưỡng, bên ngoài [lều] ông mở lòng đón lấy gánh nặng của những người dân đau-khổ – „intus in contemplationem rapitur, foris infirmantium negotiis urgetur“ [5].

 

8.

Đó là câu trả lời thứ nhất, tuy còn chung-chung, cho hai câu hỏi trên. Tự nền-tảng, „tình yêu“ là một thực-tại độc-nhất, nhưng nó mang nhiều chiều-kích – tùy lúc tùy nơi nó mang nặng mặt này nhiều hơn mặt kia, hoặc ngược lại. Ở đâu hai mặt hoàn-toàn rời nhau, ở đó tình yêu biến  thành trò cười hay quá lắm thành một thứ tình èo-uột. Và chúng ta cũng thấy dứt-khoát là đức tin trong Kinh-thánh không phải là một thế-giới bên lề hay một thế-giới đối-nghịch lại hiện-tượng tình yêu nguyên-thuỷ của con người, nhưng nó chấp-nhận toàn-thể con người, nó nhảy vào cuộc tìm-kiếm tình yêu của con người để thanh-lọc và mở ra cho con người những chiều-kích mới. Cái mới của đức tin kinh-thánh này biểu-hiện đặc-biệt trong hai điểm cần được làm nổi bật: trong hình-ảnh về Thiên-chúa và hình-ảnh về con người.

 

Cái mới của đức tin kinh-thánh

 

9.

Trước hết là cái nhìn mới về Thiên-chúa. Trong các nền văn-hoá có liên-hệ với Kinh-thánh, hình-ảnh về Thiên-chúa và các thần-linh, trên căn-bản, không rõ-ràng và đồng-nhất. Hình-ảnh này, trái lại, ngày càng rõ ra với con đường đức tin của Kinh-thánh, qua lời nguyện nền-tảng mang tên Schema của dân Israel: „Hãy nghe, hỡi Israel, Thượng-đế, Chúa của chúng ta, chỉ có một“ (Tl 6, 4). Chỉ có một Thiên-chúa, Ngài là đấng tạo thành trời đất và vì thế là Chúa của mọi người. Ở đây xác-định hai điểm có một không hai: Mọi thần-linh khác không phải là Thiên-chúa, và toàn thế-giới chúng ta đang sống là do Thiên-chúa tạo ra, do Thiên-chúa mà có. Dĩ nhiên đâu-đó cũng có những tư-tưởng về sáng-tạo, nhưng chỉ ở đây mới minh-bạch, là chỉ có một Thiênc-húa thật và duy-nhất, chứ không có chúa nào khác, chính Ngài là nguyên-ủy của mọi thực-tại và thực-tại hình-thành do sức mạnh lời tạo-dựng của Ngài. Điều này có nghĩa là thực-tại này mang hình-ảnh Ngài và Ngài yêu nó, bởi chính Ngài muốn có nó, chính Ngài „làm ra“ nó. Từ đây xuất-hiện yếu-tố thứ hai: Thiên-chúa này yêu con người. Quyền-lực thần-linh, mà Aristoteles từ đỉnh cao triết-học Hi-lạp đã cố nắm bắt bằng suy-tư, thật ra là đối-tượng của thèm-muốn và của tình yêu cho mọi loài thực-tại: Chỉ vì được thế-giới yêu mình nên thần-linh đó đã cho thế-giới chuyển-động [6]; chính thần-linh này chẳng cần gì cả và cũng chẳng biết yêu, nó chỉ biết được yêu mà thôi. Thiên-chúa độc-nhất mà dân Israel tin, trái lại, biết yêu. Tình yêu của Ngài lại thêm đặc-điểm là có chọn-lựa: Ngài đã chọn Israel trong muôn dân-tộc và yêu nó – dĩ-nhiên với mục-đích để cứu toàn-thể nhân-loại. Tình yêu đó của Chúa có thể gọi được là Eros, và Eros này đồng thời cũng là Agape [7].

 

Đặc-biệt hai tiên-tri Hôsê và Êzêkiel đã mô-tả mối tình đó của Chúa đối với dân Israel bằng những hình-ảnh thật khêu-gợi: cuộc đính hôn và hôn-nhân. Phá hôn-ước hay làm điếm, do đó, là phục-vụ ngẫu-tượng. Như vậy, tục thờ phồn-thực với việc lạm-dụng Eros, như ta thấy trên đây, đã được đề-cập; và như vậy sự trung-thành của Israel đối với Thiên-chúa của họ cũng đã được nói đến ở đây. Chuyện tình của Chúa đối với Israel hệ-tại thẳm sâu ở chỗ là Ngài đã ban cho Israel luật Thora, nghĩa là đã mở mắt họ để họ thấy được bản-chất thực-sự của con người và đã chỉ cho họ con đường làm người chân-chính. Câu chuyện này hàm-chứa sự-kiện: con người cảm-nhận được mình là người yêu của Thiên-chúa khi sống trung-thành với Thiên-chúa độc-nhất, và khám-phá ra niềm vui nơi chân-lí và công-lí, niềm vui nơi Chúa mà cũng là niềm vui của chính mình: „Ngoài Ngài ra tôi đâu có ai trên trời? Với Ngài, tôi chẳng màng gì dưới đất… Nhưng tôi – hạnh-phúc được ở bên Chúa“ (Tv 73 [72], 25. 28).

 

10.

Eros của Chúa đối với con người, như ta đã nói, hẳn là Agape. Không phải chỉ vì nó được ban tặng một cách hoàn-toàn tự-do và vô điều-kiện, nhưng cả vì nó là tình yêu tha-thứ. Đặc-biệt Hôsê chỉ cho ta thấy chiều-kích Agape, vượt xa khía-cạnh nhưng-không trong tình Chúa, đối với con người. Israel đã „ngoại-tình“, xé bỏ kết-ước; Lẽ ra Chúa phải xét-xử và phụ-rẫy nó. Nhưng cũng từ đây Chúa cho ta thấy Ngài là Chúa chứ không phải là một phàm-nhân: „Làm sao ta nỡ bỏ ngươi, hỡi Êphraim, làm sao ta nỡ thí ngươi, hỡi Israel?…Lòng ta chống lại ta, lòng thương-hại sôi lên. Ta không nổi giận và sẽ không huỷ-diệt Ephraim. Bởi ta là Thiên-chúa, không phải là phàm-nhân, là đấng thánh ở giữa ngươi“ (Ho 11, 8-9). Tình yêu nồng-nàn của Chúa đối với dân Ngài – đối với con người – đồng thời là tình yêu tha-thứ. Nó quá lớn đến nỗi Chúa phải chống lại chính mình, tình yêu Ngài phải chống lại công-lí của Ngài. Ở đây, kitô-hữu thoáng thấy bí-mật của thánh-giá hé mở: Thiên-chúa yêu con người đến đỗi chính Ngài đã nhập thế làm người, đi theo con người đến chết và với cách đó Ngài đã giao-hoà công-lí lại với tình yêu.

 

Điểm lạ trên bình-diện triết-học và lịch-sử tôn-giáo về cái nhìn Kinh-thánh trên đây là, một mặt,  có thể nói chúng ta đứng trước một Thiên-chúa rất ư siêu-hình: Ngài là nguyên-uỷ của mọi thực-tại; nhưng nguyên-ủy sáng-tạo này – Lời, Lí-trí – đồng thời cũng là một tình-nhân với con tim đam-mê. Đó là Eros thăng-hoa tới tột-đỉnh, đồng thời đã được gội sạch đến mức hoà tan vào Agape. Từ đó ta có thể hiểu rằng, khi nhận Diệu-ca vào Kinh-thánh, Giáo-hội đã rất sớm muốn dùng những bài tình ca đó để ám-chỉ mối tình của Chúa đối với con người và của con người đối với Chúa. Bằng cách đó, Diệu-ca trong văn-chương Do-thái cũng như văn-chương Công-giáo đã trở thành một nguồn nhận-thức và kinh-nghiệm thần-bí, qua đó nói lên bản-chất đức tin kinh-thánh: Vâng, có sự kết-hiệp của con người với Thiên-chúa – đây là giấc mơ nguyên-thủy của con người -, song sự kết-hợp đó không hoà tan và biến đi trong đại-dương không tên của thần-linh, nhưng là một thể nhất-thống tạo ra tình yêu, trong đó Chúa và người cả hai vẫn là hai nhưng đồng thời cũng là một. Thánh Phaolô nói: „Ai kết-hợp với Chúa thì trở nên một tinh-thần với Ngài“ (1 Co 6, 17).

 

11.

Như ta đã thấy, cái mới đầu tiên của đức tin kinh-thánh nằm nơi hình-ảnh về Thiên-chúa; cái mới thứ hai, cũng có liên-quan nội-tại với cái thứ nhất, là nơi hình-ảnh về con người. Câu chuyện sáng-tạo trong Kinh-thánh nói về sự cô-đơn của Adam, con người đầu-tiên, và việc Chúa muốn giúp y có người trợ lực bên cạnh. Mặc dù Adam có thể gọi tên tất-cả cầm-thú muông-chim và đưa chúng vào quan-hệ với cuộc sống mình, nhưng đã chẳng có một thụ-tạo nào trong chúng có thể lấp đầy cái thiếu-vắng của y. Và Chúa đã dùng xương sườn y để tạo thành người nữ. Giờ đây Adam đã có cái y cần: „Chân này rõ là từ chân tôi và thịt này là từ thịt tôi“ (Kn 2, 23). Đàng sâu chuyện này, chúng ta có thể có những hình-dung khác, chẳng hạn như chuyện thần-thoại của Platon, theo đó, thoạt-tiên con người mang dạng quả cầu, nghĩa là nó sống hoàn-toàn cho nó và chẳng cần gì ngoài khác, nhưng vì kiêu-căng, nó đã bị thần Zeus cắt đi một nửa, vì thế nó luôn-luôn hoài-vọng và đi kiếm nửa kia, để tìm lại cái toàn-thể đã mất [8]. Câu chuyện trong Kinh-thánh không nói đến hình phạt, nhưng có đề-cập tới sự bất-túc của con người – bản-chất con người là đi tìm tới người khác để làm trọn-đầy mình; nó chỉ „trọn-đầy“ khi có sự kết-hợp giữa người nam và nữ. Và câu chuyện kinh-thánh cũng đã kết-thúc bằng một lời tiên-tri về Adam: „Vì thế người nam sẽ bỏ cha mẹ và kết-hợp với vợ mình và cả hai trở nên một xương thịt“ (Kn 2, 24).

 

Ở đây có hai điểm quan-trọng: Eros đã nằm sẵn trong bản-chất con người; Adam „bỏ cha mẹ“ lên đường tìm người nữ; chỉ sau khi cả hai kết lại họ mới thành con người trọn-đầy, họ trở thành một „xương thịt“. Điểm thứ hai cũng quan-trọng không kém: Theo chương-trình tạo-dựng, Eros dẫn con người đi tới hôn-nhân, tới một gắn-bó mang tính duy-nhất và luôn-mãi. Chỉ như vậy lệnh-truyền nội-tại của Eros mới được đáp-ứng. Hôn-nhân một vợ một chồng hợp với hình-ảnh Thiên-chúa độc thần. Cuộc hôn-nhân dựa trên tình yêu duy-nhất và luôn-mãi được dùng để diễn-tả mối tình Thiên-chúa đối với dân Ngài và ngược lại: Lối yêu của Chúa trở thành khuôn-thước cho tình yêu con người. Ngoài Kinh-thánh ra chúng ta chẳng tìm đâu ra mô hình nối-kết chặt-chẽ giữa Eros và hôn-nhân như thế.

 

Jesu Kitô – tình yêu Thiên-chúa trở thành xương thịt

 

12.

Dù cho tới lúc này ta chỉ nói nhiều về Cựu-ước, nhưng ta cũng đã thấy sự thẩm-nhập sâu-xa giữa Tân và Cựu-ước vào nhau để thành như một Kinh-thánh chung của đức tin kitô giáo. Cái mới thực-sự của Tân-ước không phải là những tư-tưởng mới, nhưng chính là hình-dáng đức Kitô, đấng đã hiện-thực hoá ý nghĩ thịt máu một cách lạ-lùng khó tin. Ngay cái mới trong Cựu-ước cũng không hệ-tại nơi tư-tưởng, nhưng nơi hành-động bất-ngờ và phần nào lạ-lùng của Thiên-chúa. Hành-động của Thiên-chúa đó giờ đây mặc lấy hình-thù bi-thảm qua việc Thiên-chúa đi tìm con „chiên lạc“, đi tìm nhân-loại đau-khổ và hư mất ngay chính trong đức Jesu Kitô. Khi đức Jesu nói trong các dụ-ngôn của Ngài về người mục-tử đi tìm chiên lạc, về người đàn bà tìm đồng tiền mất, về người cha chạy tới ôm lấy đứa con hoang trở về, thì tất-cả những câu chuyện đó không chỉ là lời kể suông, nhưng đó là những cắt nghĩa về chính sự hiện-hữu và hành-động cùa Ngài. Cái chết trên thánh-giá là thể-hiện cao độ thái-độ Thiên-chúa chống lại chính mình, qua đó Ngài tự hiến để nâng con người lên và cứu họ – đó là tình yêu thể-hiện trong hình-thái triệt-để nhất của nó. Nhìn lên cạnh sườn của Chúa bị đâm thâu, như thánh Gioan nói (xem 19, 37), ta hiểu được điểm khởi đầu của thông-điệp này: „Chúa là tình yêu“ (1 Yo 4, 8). Ta có thể nhìn-ngắm sự thật này từ vết thương đó.

 

Và từ đó, giờ đây ta hiểu được tình yêu là gì. Từ vết thương đó kitô-hữu tìm thấy con đường sống và yêu của mình.

 

13.

Đức Jesu đã biến hành-vi hiến thân của mình thành hiện-tại kéo dài qua việc lập ra phép Thánh-thể trong bữa tiệc-li . Ngài báo trước cái chết và sống lại của mình qua việc trao chính mình cho các môn-đệ dưới hình bánh rượu, trao thịt và máu mình như là Manna mới (xem Yo 6, 31-33). Thế-giới cổ-xưa vẫn mơ rằng của ăn đích-thực của con người – cái mà con người cần để sống như là người – cuối cùng là Logos (Lời), là chân-lí muôn đời, thì giờ đây Logos đó đã trở thành của ăn thực-sự – của ăn tình yêu – cho chúng ta. Thánh-thể đưa ta đi vào hành-vi tự hiến của đức Jesu. Không phải chúng ta rước Logos nhập-thể vào lòng trong thế tĩnh, nhưng chúng ta bị cuốn vào lực đẩy của sự hiến-mình đó. Hình-ảnh cuộc hôn-nhân trước đây khó tưởng-tượng được giữa Thiên-chúa và Israel nay đã thành sự thật: Từ đối đầu với Thiên-chúa nay trở nên kết-hợp với Ngài qua kết-hiệp với sự hiến mình của đức Jesu, kết-hiệp với thịt và máu Ngài. Sự „Nhiệm-mầu“ của bí-tích thánh-thể, bí tích đặt nền-tảng trên việc Chúa hạ mình xuống với ta, toả xa mãi và vươn cao hơn mọi gặp-gỡ nhiệm-mầu của con người có thể đạt tới.

 

14.

Bây giờ, một điểm nữa cũng cần để ý: „Nhiệm-mầu“ của Thánh-thể mang tính xã-hội. Bởi vì khi tôi rước lễ, cũng như bao người rước lễ khác, là tôi kết-hợp với Chúa Kitô. Thánh Phaolô nói: „Chỉ có một bánh. Vì thế nhiều người chúng ta cùng ở trong một thân-thể, bởi tất-cả chúng ta đều dự phần trong một bánh đó“ (1 Co 10, 17). Kết-hợp với Chúa cũng là kết-hợp với tất-cả những ai được Ngài hiến thân. Tôi không thể giữ Chúa Kitô riêng cho tôi, tôi thuộc về Ngài chỉ khi nào tôi ở trong cộng-đoàn cùng với những người đã thuộc về hay sẽ thuộc về Ngài. Việc rước lễ lôi tôi ra khỏi tôi để đưa tôi tới với Chúa, và như vậy đồng thời làm tôi liên-kết với mọi kitô-hữu khác. Chúng ta trở thành „một thân-thể“, thành một hiện-hữu hoà tan vào nhau. Như vậy tình yêu Chúa và tình yêu người là một: Thiên-chúa nhập-thể kéo tất-cả chúng ta tới với Ngài. Như vậy, Agape giờ đây cũng là tên gọi của Thánh-thể: Trong Thánh-thể, Agape của Chúa đến với ta bằng xương bằng thịt, để rồi tiếp-tục hoạt-động trong ta và qua ta. Chỉ với nền-tảng bí-tích kitô giáo đó ta mới hiểu được đúng-đắn bài học tình yêu của Chúa Kitô. Việc Ngài nối luật-lệ và các tiên-tri vào cặp giới răn yêu Chúa thương người và việc Ngài xoáy toàn-bộ cuộc sống kitô-hữu vào trách-vụ đó, chẳng phải là chuyện thuần-tuý đạo-đức, và đạo-đức này có thể đứng một mình độc-lập bên cạnh niềm tin vào Chúa Kitô và bên cạnh sự hiện-diện của Ngài trong phép Thánh-thể. Không: đức tin, phụng-vụ và đạo-đức tác-động trong nhau như một thực-tại duy-nhất, và thực-tại này được thành hình qua sự gặp-gỡ Agape của Chúa. Giờ đây, sự đối-lập thường thấy giữa phụng-vụ và đạo-đức biến mất: Chính trong „phụng-vụ“, trong việc rước lễ, đã bao-hàm sự-kiện được yêu và cho đi tiếp tình yêu. Không trở thành hành-động tình yêu thực-tiễn, phép Thánh-thể sẽ tự nó thành ra manh-mún, không lành-lặn. Ngược lại – như chúng ta sẽ phải bàn kĩ thêm điểm này trong phần sau – „giới răn“ tình yêu chỉ có thể thực-thi được, bởi vì nó không chỉ thuần-tuý là một yêu-cầu: Tình yêu có thể „đặt (hàng)“ được, vì nó trước hết đã được trao tặng.

 

15.

Có như thế ta mới hiểu được những dụ-ngôn lớn của đức Jesu. Từ chốn luyện-ngục anh nhà giàu (xem Lc 16, 19-31) van xin người ta loan-báo cho các anh em mình biết về số-phận đang đón-chờ những ai không quan-tâm tới người nghèo khốn-khó. Có thể nói đức Jesu đã chụp lấy và mang đến cho ta tiếng kêu than đó, để cảnh-giác và đưa ta về đàng lành. Dụ-ngôn người Samarita nhân-hậu (xem Lc 10, 25-37) đặc-biệt làm rõ nghĩa hai điều. Cho tới lúc đó chữ „người bên cạnh“ vẫn thường được hiểu là dân Israel và những ngoại-kiều cư-ngụ trên đó, nghĩa là ám-chỉ mối liên-kết của một dân-tộc hay của những cư dân trong một quốc-gia, nay biên-giới đó đã bị xoá: Người bên cạnh là hết thảy những ai cần tôi và những ai tôi có thể giúp-đỡ. Ý-niệm „người bên cạnh“ trở thành phổ-quát và cụ-thể. Dù được mở ra cho tất-cả mọi người, ý-niệm đó không bao-hàm một tình yêu khơi-khơi từ xa, nhưng nó đòi-hỏi sự dấn-thân cụ-thể của tôi tại chỗ. Giáo-hội luôn có trách-nhiệm cắt-nghĩa mối dây xa gần đó, để con-cái mình biết áp-dụng trong cuộc sống thực-tiễn. Sau cùng, đặc-biệt còn có dụ-ngôn lớn về phiên toà phán-xét (xem Mt 25, 31-46), qua đó tình yêu được dùng làm tiêu-chuẩn để quyết-định chung-thẩm về sự xứng-đáng của cuộc sống mỗi người. Đức Jesu coi mình là những kẻ bất-hạnh: đói, khát, trần-truồng, ngoại-kiều, bị tù. „Những gì các bạn làm cho một trong những người anh em bé-mọn nhất của tôi, thì các bạn đã làm cho tôi“ (Mt 25, 40). Yêu Chúa mến người hoà tan trong nhau: Qua người bé-mọn nhất chúng ta gặp chính đức Jesu, và qua đức Jesu chúng ta gặp Thiên-chúa.

 

Tình yêu Chúa và tình yêu tha-nhân

 

16.

Sau tất-cả những suy-tư về bản-chất tình yêu và ý nghĩa của nó trong đức tin kinh-thánh, hai câu hỏi liên-quan tới thái-độ của ta được đặt ra: Ta có thể yêu Chúa, là đấng ta không thấy không? Và: Tình yêu có thể phát-sinh từ ý-chí (muốn có là có) được không? Hai câu hỏi này bao-hàm lí-lẽ bác-bỏ hai giới-răn trên. Làm sao yêu một đấng vô hình? Và nữa, không thể ra lệnh cho tình yêu, nó chỉ là một tình-cảm, có đó mà cũng không có đó, lí-trí không thể sản-xuất ra nó được. Xem ra Kinh-thánh xác-nhận câu phi-bác đầu, khi nói: „Ai nói ‚Tôi yêu Chúa’, mà lại ghét anh em mình, thì đó là kẻ nói dối. Bởi vì ai không yêu anh em mình, là những người họ thấy trước mắt, thì không thể yêu Chúa, là đấng họ không thấy được“ (1 Yo 4, 20). Nhưng câu này không hoàn-toàn loại-bỏ ý-tưởng có thể yêu Chúa, trái lại nó nêu lên rõ-ràng đòi-buộc yêu Chúa, như trong nội-dung thư thứ nhất của thánh Gioan đã nêu. Phải nhấn mạnh ở đây sự chòng-chéo không thể tách rời giữa yêu Chúa và mến người. Cả hai là một, nên chi bảo yêu Chúa mà nhắm mắt với người hoặc thậm chí ghét người, là nói dối. Ta phải diễn-giải câu của thánh Gioan theo hướng này: Mến người cũng là con đường tới gặp Chúa, và làm ngơ với người cũng có nghĩa là nhắm mắt với Chúa.

 

17.

Thực-tế đã chẳng ai thấy Thiên-chúa thật-sự ra sao cả. Dù vậy, Thiên-chúa không hoàn-toàn ẩn mặt, Ngài không quá xa chúng ta. Thánh Gioan viết trong thư (xem 4, 10): Trước hết Thiên-chúa yêu ta, và tình yêu đó tỏ-hiện giữa chúng ta, chúng ta thấy được nó qua việc Thiên-chúa „đã gởi Con một xuống thế-gian, để chúng ta nhờ Ngài mà được sống“ (1 Yo 4, 9). Thiên-chúa đã tự tỏ-hiện cho ta, bởi vì qua đức Jesu ta có thể nhìn thấy Thiên-chúa (xem Yo 14, 9). Quả thực, Thiên-chúa đã tỏ-hiện bằng nhiều cách. Trong lịch-sử tình yêu mà Kinh-thánh kể cho chúng ta nghe, Thiên-chúa đi tới với ta, tìm cách chiếm-đoạt ta – cho tới bữa tiệc li, cho tới lúc tim bị đâm thâu trên thánh-giá, cho tới những lần hiện ra của đấng Phục-sinh và những việc làm lớn-lao của Ngài, qua đó, với hoạt-động của các tông-đồ, Ngài đã dẫn Giáo-hội đang hình thành lên đường. Và trong lịch-sử tiếp theo của Giáo-hội Ngài cũng đã chẳng vắng mặt: Ngài luôn tái hiện tới với ta – qua những người phản-chiếu hình-ảnh của Ngài trong họ, qua lời Ngài, qua các bí-tích, đặc-biệt bí-tích Thánh-thể. Trong phụng-vụ và lời nguyện của Giáo-hội, trong cộng-đoàn sống-động của những kẻ tin chúng ta cảm-nhận và bắt gặp tình yêu Thiên-chúa, và cũng nhờ đó học biết cách nhận diện sự có mặt của Ngài trong cuộc sống thường ngày của ta. Ngài đã yêu ta và đang yêu ta trước hết; vì thế chúng ta cũng có thể đáp-trả lại Ngài bằng tình yêu. Thiên-chúa không ra cho ta một mẫu tình-cảm mà ta không thể áp-dụng được. Ngài yêu ta, cho ta thấy và cảm được tình yêu của Ngài, và từ „tình yêu trước hết“ đó của Chúa, chúng ta cũng có thể đáp trả lại tình yêu đó bằng cách để cho mầm tình yêu trong ta đâm chồi.

 

Ngoài ra, trong tiến-trình gặp-gỡ này, ta cũng thấy rõ tình yêu không chỉ đơn-thuần là một cảm-giác. Cảm-giác thì nay có mai không. Cảm-giác có thể là một mồi lửa tuyệt-diệu, nhưng nó không phải là toàn-bộ tình yêu. Trên kia, chúng ta đã nói đến tiến-trình thanh-lọc và trưởng-thành làm cho Eros trở thành tinh-ròng, tình yêu trở nên đúng nghĩa. Tình yêu trưởng-thành bao-hàm việc nó lôi-kéo toàn lực con người, nó hội-nhập con người vào cái toàn-diện, có thể nói như vậy. Gặp-gỡ tình yêu Chúa qua các cách-thể khả mục như trên có thể tạo lên trong ta niềm vui, thứ niềm vui đến từ kinh-nghiệm được yêu. Nhưng gặp-gỡ đó cũng đòi-hỏi ý-chí và lí-trí của ta. Nhận biết Thiên-chúa sống-động là con đường dẫn tới tình yêu, và tiếng Vâng của ý-chí chúng ta trước ý muốn Thiên-chúa sẽ nối-kết lí-trí, ý-chí và cảm-giác của chúng ta lại thành một hành-vi tình yêu toàn-diện. Đó là một diễn-trình không ngơi-nghỉ: Tình yêu không bao giờ đã thành-tựu trọn-vẹn, nó thay-đổi và trưởng-thành theo cuộc sống và chính qua đó nó trung-thành với nó. Idem velle atque idem nolle [9] – muốn cái đó mà không muốn cũng cái đó; người xưa coi đó là nội-dung đích-thực của tình yêu: trở thành một-giống-nhau, điều này dẫn tới một ý muốn chung và một ý nghĩ chung. Lịch-sử tình yêu giữa Thiên-chúa và con người thể-hiện chính ở chỗ là ý muốn chung này lớn lên trong ý nghĩ và cảm-giác chung, và như thế ý (muốn) ta luôn tiến tới nhập vào trong ý Chúa: Đối với ta, ý Chúa lúc này không còn là ý của một kẻ xa-lạ nào nữa chỉ biết quàng lên ta những giới-răn, nhưng đó là ý của chính tôi, có được là vì tôi nghiệm ra rằng Chúa đang ở trong tôi thật-sự cũng như tôi đang ở trong chính tôi [10]. Từ đó nẩy dần trong ta ý-thức xả thân cho Chúa. Từ đó Chúa trở thành hạnh-phúc của ta (xem Tv 73 [72], 23-28).

 

18.

Như vậy, tình yêu tha-nhân theo nghĩa Kinh-thánh và đức Jesu dạy có thể thực-hành được. Nó thể-hiện qua sự-kiện vì Chúa mà tôi yêu cả một kẻ thoạt-tiên tôi chả thích tí nào, một kẻ tôi chưa quen biết. Điều đó chỉ có thể xẩy ra khi có cuộc gặp-gỡ nội-tâm với Chúa; cuộc gặp này trở thành một ý muốn chung và đưa tới cảm-giác. Từ đó tôi nhìn tha-nhân không từ con mắt và cảm-quan của tôi nữa, mà từ góc-độ của Chúa Jesu Kitô. Bạn của Ngài là bạn tôi. Xuyên qua bề ngoài tôi thấy được lòng họ đang mong-chờ một cử-chỉ tình yêu – một cử-chỉ quan-tâm, mà tôi cho họ không chỉ qua một tổ-chức bác-ái có trách-nhiệm hoặc có lẽ không phải do tình-thế chính-trị bó-buộc.  Tôi nhìn họ với con mắt Chúa Kitô và có thể cho họ nhiều hơn những cái họ cần bên ngoài: đó là ánh mắt yêu thương, là cái họ cần. Ta thấy ở đây sự tác-động qua lại cần-thiết giữa yêu Chúa và mến người, mà thánh Gioan đã nhấn mạnh rất nhiều trong thư thứ nhất của ngài. Nếu trong cuộc sống tôi hoàn-toàn không chạm được tới Chúa, thì khi nhìn tha-nhân, tôi cũng chỉ thấy họ như một người lạ và không thể nhận ra hình-ảnh Chúa trong họ. Nhưng nếu tôi loại-bỏ tình mến người ra khỏi đời tôi và chỉ muốn „đạo-đức“, chỉ muốn chu-toàn „các bổn-phận tôn-giáo“ của tôi mà thôi, thì mối liên-hệ giữa Chúa và tôi cũng sẽ khô héo. Mối liên-hệ đó chỉ còn là „đúng“, nhưng vắng bóng tình yêu. Chỉ khi tôi sẵn-sàng tới với kẻ khác, tỏ lòng yêu thương họ, khi đó tôi mới cảm được sự hiện-diện của Chúa. Chỉ qua phục-vụ tha-nhân mới giúp tôi mở mắt nhìn ra những gì Chúa đã làm cho tôi và Ngài thương tôi thế nào. Các thánh – chẳng hạn như chân-phước Terexa ở Calcutta – luôn-luôn múc mới khả-năng yêu người từ nguồn gặp-gỡ Chúa trong Thánh-thể , và ngược lại, việc phục-vụ tha-nhân lại giúp sự gặp-gỡ đó trở nên thắm-thiết và triệt-để. Yêu Chúa và mến người không thể tách nhau. Cả hai chỉ là một mệnh-lệnh. Nhưng cả hai được nuôi-dưỡng bằng tình yêu nhưng-không của Chúa đối với ta, Ngài đã yêu ta trước. Như vậy, đó chẳng còn là một „mệnh-lệnh“ từ ngoài, một mệnh-lệnh bắt ta làm chuyện không thể làm được, nhưng là một kinh-nghiệm yêu đến từ bên trong, mà bản-chất của nó là phải luôn loan-truyền ra mãi. Tình yêu lớn lên bằng tình yêu. Nó „linh-thiêng“, bởi vì nó đến từ Chúa và nó nối-kết ta với Chúa làm thành một Chúng ta. Nó khép lại những xa-cách giữa chúng ta và kết chúng ta thành một. Như thế cuối cùng „Chúa là tất-cả trong mọi sự“ (xem 1 Co 15, 28).

 

 

Phần Hai

 

Caritas: Công-tác tình yêu của Giáo-hội, và Giáo-hội như là một „Cộng-đoàn tình yêu“

 

Công-tác tình yêu của Giáo-hội như là biểu-hiện tình yêu Chúa ba ngôi

 

19.

Thánh An-tịnh (Augustinus) viết: „Bạn thấy tình yêu, tức là bạn thấy Chúa ba ngôi“ [11]. Qua những suy-tư trên đây, chúng ta đã có thể hướng mắt nhìn lên vết thương cạnh sườn của đức Jesu, đã có thể nhìn lên đấng „bị đâm thâu“ (xem Yo 19, 37; Za 12, 10) và qua đó ta nhận ra chương-trình của Chúa Cha, Đấng vì yêu thương (xem Yo 3, 16) đã sai Con Ngài xuống trần để cứu-chuộc nhân-loại. Thánh sử tường-thuật, khi chết trên thánh-giá, đức Jesu đã „trút thần-khí“ (xem Yo 19, 30). Đó là mở đầu cho việc chuyển tiếp Thánh-linh, và chuyển-tiếp này sẽ được hoàn-thành sau khi Chúa Kitô phục-sinh (xem Yo 20, 22). Như thế, lời hứa về những „suối nước hằng sống“ đã được thực-hiện, những suối nước chảy ra từ trong lòng kitô-hữu, nhờ họ đã được tưới nước Thánh-thần (xem Yo 7, 38-39). Thánh-linh đúng ra là sức mạnh nội-tâm làm tim họ hoà nhịp với tim Chúa Kitô, là sức mạnh khiến họ yêu người đến mức như Chúa đã yêu họ qua việc Ngài cúi xuống rửa chân cho các môn-đệ (xem Yo 13, 1-13), và đặc-biệt qua việc Ngài hiến cuộc sống mình cho mọi người (xem Yo 13, 1; 15, 13).

 

Thánh-linh cũng là một sức mạnh làm biến-đổi trái tim cộng-đoàn Giáo-hội, để Giáo-hội trần-gian trở thành chứng nhân tình yêu của Chúa Cha, Đấng muốn làm cho nhân-loại thành một gia-đình duy-nhất trong Con của mình. Mọi hành-động của Giáo-hội đều là dấu-chỉ tình yêu, nhắm tìm cho con người một sự lành toàn-diện: qua việc phúc-âm hoá bằng lời Chúa và bí-tích – những việc làm này nhiều khi đã được thực-hiện một cách anh-dũng trong quá-trình lịch-sử – và qua những hỗ-trợ phát-triển của Giáo-hội trên nhiều lãnh-vực đời sống và hoạt động con người. Tình yêu cũng là những công-tác phục-vụ mà Giáo-hội mở ra để miệt-mài chống lại cả những nỗi đau và túng-quẩn vật-chất của con người. Trong phần hai này tôi muốn bàn về mặt công-tác tình yêu này.

 

Công-tác tình yêu như là sứ-vụ của Giáo-hội

 

20.

Tình yêu người, vốn cắm neo trong tình yêu Chúa, trước hết là trách-vụ của của mỗi tín-hữu. Nhưng nó đồng thời cũng là trách-vụ của toàn-thể Giáo-hội, cho mọi cấp: từ giáo-xứ lên giáo-hội địa-phương tới toàn-thể Giáo-hội hoàn-vũ. Là cộng-đoàn con người, Giáo-hội cũng phải thực-hành tình yêu. Tình yêu, như vậy, phải được tổ-chức để công-tác phục-vụ chung được đâu vào đó. Ngay từ đầu Giáo-hội đã ý-thức trách-vụ này: „Tất-cả những ai đã trở thành tín-hữu hợp thành một cộng-đoàn và cùng có chung mọi thứ. Họ bán của-cải tài-sản và chia cho mỗi người tuỳ theo nhu-cầu cá-nhân“ (Cv 2, 44-45). Điều Luca kể cho chúng ta nghe giống như một thứ định-nghĩa về Giáo-hội, mà thánh sử nêu ra một vài yếu-tố cấu-thành nền-tảng như sau: tuân-giữ „lời dạy của các tông-đồ“, xây-dựng „cộng-đoàn“ (koinonia), giữ việc „bẻ bánh“„cầu nguyện“ (xem Cv 2, 42). Yếu-tố „cộng-đoàn“ (koinonia) không cần cắt nghĩa thêm ở đây, vì nó đã được cụ-thể hoá trong câu vừa trích: Cộng-đoàn thời đó bao-hàm việc mọi tín-hữu có chung của-cải và giữa họ chẳng còn khác-biệt giàu nghèo gì nữa (xem cả 4, 32-37).  Dĩ nhiên, với đà bung ra lớn rộng của Giáo-hội, hình-thức chung góp của-cải vật-chất triệt-để đó đã không còn tiếp-tục được. Nhưng cái cốt-lõi căn-bản thì vẫn giữ, nghĩa là trong cộng-đoàn tín-hữu không được để xẩy ra tình-trạng đói nghèo đến nỗi có người không sống được đúng phẩm-giá vì quá thiếu-thốn.

 

21.

Bước tiến quyết-định trong nỗ-lực thực-thi nguyên-tắc căn-bản đó của Giáo-hội là việc các tông-đồ chọn ra nhóm bảy người nam để chia-sẻ công-việc, và đó là khởi đầu của chức-vụ phó-tế (xem Cv 6, 5-6). Chuyện xẩy ra là vì có sự chăm-sóc không đồng-đều những người goá-bụa thuộc nhóm nói tiếng Hi-lạp và nhóm nói tiếng Hê-brơ trong Giáo-hội sơ-khai. Vì công-tác „cầu-nguyện“ (Thánh-thể và phụng-vụ) và „công-tác lời Chúa“ đã quá nặng, nên các tông-đồ quyết-định lập ra nhóm trên để đảm-nhận thay các ngài „công-tác dọn bàn“. Đây không phải là một sự phân-công mang tính thuần-tuý kĩ-thuật, là vì những người được chọn phải là người „đầy thần-trí và khôn-ngoan“ (xem Cv 6, 1-6). Như vậy, công-việc phục-vụ xã-hội mà họ đảm-nhận là một công-tác cụ-thể và đồng thời rõ-ràng thiêng-liêng, nên chức-vụ của họ là một chức thánh thực-sự. Với chức-vụ đó họ đảm-nhận một trách-vụ quan-trọng – công tác bác-ái tha-nhân có tổ-chức – của Giáo-hội. Với việc lập nhóm bảy người, công-tác bác-ái tập-thể có tổ-chức- „diakonia“ – giờ đây bám rễ trong chính cơ-cấu nền-tảng của Giáo-hội.

 

22.

Với thời-gian và theo đà phát-triển của Giáo-hội, công-tác tình-yêu – Caritas – được xác-định như một phần quan-trọng bên cạnh công-tác rao-giảng lời Chúa và công-tác cử-hành bí-tích: Thực-hiện tình yêu đối với những người goá-bụa, mồ-côi, tù-đày, tật-bệnh và kẻ khốn-khó dưới mọi hình-thức, là công-tác mang cùng một bản-chất như việc cử-hành bí-tích và rao-giảng lời Chúa.  Cả ba công-tác này, Giáo-hội không thể lơ-là chuyện nào cả. Chỉ cần một vài thí-dụ cũng đủ minh-chứng điều này.  Vị tử-đạo Justinus (mất khoảng năm 155) cũng kể về công-tác bác-ái gắn liền với phép Thánh-thể trong buổi lễ chủ-nhật của các bổn-đạo: Người khá-giả hơn dâng cúng bất cứ thứ gì tùy khả-năng; sau đó vị giám-mục dùng những thứ đó giúp kẻ mồ-côi, goá-bụa và những người vì bệnh hay do bất cứ một lí-do nào rơi vào túng-quẫn, cũng như cả người tù và người lạ [12]. Nhà văn lớn kitô giáo Tertullian (mất sau 220) kể lại nỗi ngỡ-ngàng của người ngoại giáo trước cảnh tín-hũu Kitô đối chăm-sóc những người neo-đơn đủ loại [13]. Ignatius ở Antiochia [mất khoảng 117] gọi Rôma là „Chủ-tịch tình yêu (Agape)“ [14]; hẳn ngài muốn dùng tước-hiệu đó để nói lên nỗ-lực bác-ái cụ-thể của Giáo-hội.

 

23.

Có lẽ cũng cần nói thêm ở đây một chút về khung-cảnh luật-pháp xưa của công-việc bác-ái. Khoảng giữa thế-kỉ thứ 4 bắt đầu hình-thành ở Ai-cập các tổ-chức bác-ái. Đó là bộ-phận trong mỗi tu-viện riêng đảm-nhận toàn-bộ công-tác chăm-sóc phục-vụ – công-tác Caritas. Cho tới thế-kỉ thứ 6, các bộ-phận đó phát-triển thành một tổ-chức có tư-cách pháp-nhân với quyền-hạn rõ-ràng, đến nỗi nhà-nước đã giao cho họ một phần lúa gạo để phát chẩn cho dân. Cuối cùng, ở Ai-cập, không những mỗi tu-viện mà cả mỗi giáo-phận đều có cơ-quan bác-ái. Định-chế này từ đó đã lan dần ra cả phương đông lẫn phương tây. Đại giáo-chủ Gregorio (mất 604) có nói đến tổ-chức bác-ái ở Napoli. Ở Rôma, bắt đầu từ thế-kỉ thứ 7 và 8 sử sách mới nói tới các tổ-chức bác-ái; tuy-nhiên, công-tác chăm-sóc người nghèo và kẻ đau yếu theo những nguyên-tắc đời sống kitô giáo như mô-tả trong Tông-đồ công-vụ thì hẳn đã có trước đó rồi, và ngay từ đầu những công-tác đó đã được giáo-hội tại Rôma quan-tâm đặc-biệt. Trách-vụ bác-ái đã được phó-tế Laurentius (mất 258) hoàn-thành một cách sống-động. Thánh Ambrosius (mất 397) hẳn đã đọc được câu chuyện tử-đạo bi-thảm của vị phó-tế đó, và nét chính của câu chuyện đã cho ta thấy hình-dạng thật của Thánh nhân. Sau khi các đồng-nghiệp và Giáo-chủ bị bắt, Laurentius là người còn lại chịu trách-nhiệm công-tác bác-ái cho người nghèo trong thành Rôma. Lợi-dụng chút thời-gian còn lại, ngài cho thu-dọn tài-sản của Giáo-hội, và thay vì để giao-nội cho chính-quyền, ngài đã phân-phát hết cho người nghèo. Và trước mặt chính-quyền, ngài bảo việc làm đó là kho-tàng thật của Giáo-hội [15]. Dù người ta có thể còn có những hồ-nghi về chi-tiết lịch-sử, nhưng hình-ảnh Laurentius vẫn lưu lại trong trí mọi người như là một chứng nhân tình yêu lớn của Giáo-hội.

 

24.

Hình-ảnh hoàng-đế Julian Cải Giáo (mất 363) có thể cho ta thấy một lần nữa về tầm quan-trọng của công-tác bác-ái có tổ-chức và thực-tiễn trong thời Giáo-hội sơ-khai. Lúc 6 tuổi, Julian chứng-kiến cảnh lính hoàng-cung giết cha, các anh và các người thân khác của mình. Ông đổ hành-động man-rợ đó – đúng hay không, không biết – cho hoàng-đế Constanz, kẻ vẫn tự xưng là một kitô-hữu lớn. Julian vì thế chẳng còn tin-tưởng gì nữa vào Kitô giáo. Sau khi trở thành hoàng-đế, ông cho lập lại tôn-giáo cũ của Rôma, đồng-thời cải-tiến nó để nó có thể trở thành lực đỡ thực-sự cho Đế-quốc. Ông đem vào ngẫu giáo mới này nhiều yếu-tố kitô giáo. Ông thiết-lập một cơ-cấu phẩm-trật có các tổng giám-mục và linh-mục, theo đó các linh-mục lo về phần công-tác tình yêu đối với Chúa và với người. Ông viết trong một lá thư [16]: cái duy-nhất trong đạo Kitô gây ấn-tượng nơi ông là công-tác bác-ái. Và đó là điểm nổi-bật nơi đạo mới của Julian, khi ông cho hình thành một công-tác bác-ái song-song với công-tác của Kitô giáo. Ông bảo, dân „Galilê“ đã nổi tiếng nhờ công-tác này, vì thế mình cũng phải làm như họ và còn phải làm hơn họ. Qua xác-nhận đó của Hoàng-đế, ta thấy được việc thực-hành bác-ái – Caritas – là  dấu-chỉ quyết-định của giáo-xứ, của Giáo-hội.

25.

Tới đây, qua những suy-tư trên, chúng ta giữ lại hai hiểu-biết nòng-cốt:

a) Bản-chất Giáo-hội thể-hiện qua ba sứ-vụ: Rao-giảng lời Chúa (kerygma-martyria), cử-hành bí-tích (leiturgia) và công-tác tình yêu (diakonia). Ba sứ-vụ này tùy-thuộc lẫn nhau và không thể tách rời nhau. Đối với Giáo-hội, sứ-vụ tình yêu không phải là một thứ công-tác bác-ái có thể để cho ai khác làm thay, nhưng nó thuộc bản-chất của Giáo-hội, là dấu-chỉ cơ-bản bất khả-nhượng của chính Giáo-hội [17].

b) Giáo-hội là gia-đình của Chúa ở trần-gian, trong gia-đình này không được để ai đau-khổ vì túng-quẫn. Nhưng công-tác bác-ái tình thương lại đồng thời vượt quá khả-năng của Giáo-hội. Dù sao, dụ-ngôn người Samarita nhân-hậu vẫn là khuôn thước, nó xác-nhận tính-cách phổ-quát của tình yêu, sẵn-sàng giúp bất cứ ai cần mà mình „tình-cờ“ gặp (xem Lc 10, 31). Ngoài việc tuân-giữ tính phổ-quát của giới-răn yêu thương đó, Giáo-hội còn có một trách-vụ chuyên-biệt riêng, đó là không để cho một đứa con nào trong đại gia-đình mình rơi vào túng-quẫn. Lời bảo trong thư gởi giáo-đoàn Galata: „Vì thế, bao lâu còn thời-gian, chúng tôi muốn làm điều lành cho mọi người, đặc-biệt là cho anh chị em đồng đạo trong nhà“ (6, 10).

 

Công-lí và tình yêu

 

26.

Từ thế-kỉ 19 nổi lên tiếng nói chống lại công-tác bác-ái của Giáo-hội, đặc-biệt hình thành từ tư-tưởng mác-xít. Họ bảo rằng người nghèo cần công-lí chứ không cần tình thương. Tình thương, bố-thí là cách của người có của dùng để cản đường công-lí, để xoa dịu lương-tâm, để họ tiếp-tục ngồi trên trước và để làm cho kẻ nghèo không còn biết đến quyền của mình nữa. Thay vì dùng công-tác bác-ái để góp phần giữ nguyên tình-trạng bất công đó, người ta nên tạo ra một trật-tự công-lí, qua đó mọi người đều nhận được phần từ của-cải thế-giới và như vậy chẳng cần tới bố thí bác-ái nữa. Đó là lí-luận của họ. Phải công-nhận có vài điểm đúng, nhưng cũng có nhiều điểm sai. Đúng, nguyên-tắc căn-bản của nhà-nước là phải theo-đuổi công-lí và mục-tiêu của nhà-nước là thiết-lập một cơ-cấu xã-hội công-bằng và, với sự quan-tâm tới nguyên-tắc phụ-đới, bảo-đảm cho mỗi người có được phần mình từ của-cải chung. Học-thuyết của Giáo-hội về nhà-nước và xã-hội cũng nhấn mạnh điều đó. Trên bình-diện lịch-sử, sự hình-thành xã-hội kĩ-nghệ trong thế-kỉ 19 đã đưa vấn-đề cơ-cấu công-bằng của đời sống chung vào một hoàn-cảnh mới. Việc xuất-hiện nền kĩ-nghệ tân-tiến với một đội-ngũ đông-đảo công-nhân ăn lương đã phá vỡ cơ-cấu xã-hội cũ và tạo nên một thay-đổi triệt-để trong việc xây-dựng xã-hội, trong đó tương-quan giữa tư-bản và lao-động trở thành yếu-tố quyết-định, một chuyện cho tới lúc đó chưa bao giờ xẩy ra. Cơ-cấu sản-xuất và tư-bản giờ đây trở thành quyền-lực mới. Quyền-lực này nằm trong tay một số nhỏ người, dẫn tới tình-trạng tước quyền của đám đông thợ-thuyền. Phải đứng lên để chống lại.

 

27.

Phải công-nhận rằng các đại-diện Giáo-hội đã trễ-nãi nhận ra nhu-cầu về một cơ-cấu xã-hội công-bằng mới. Đã có những người mở đường, chẳng hạn giám-mục Ketteler giáo-phận Mainz (mất 1877) là một trong số đó. Để đối-phó với những khó-khăn cụ-thể trước mắt, các nhóm, tổ-chức, hội-đoàn, hiệp-hội và nhất là các dòng tu mới đã hình thành. Trong thế-kỉ 19, các dòng tu đã nhập-cuộc vào trận chiến chống lại nghèo đói, bệnh tật và cơn khát giáo-dục. Năm 1891 giáo-chủ Lêô XIII đưa ra thông-điệp Việc mới để đối-phó. Tiếp đó là thông-điệp Năm thứ bốn mươi của Piô XI (1931). Chân-phước giáo-chủ Gioan XXIII phổ-biến thông-điệp Mẹ và thầy năm 1961, trong khi Phaolô VI với thông-điệp Phát-triển các dân-tộc (1967) và tông-thư Kêu-gọi hành-động (1971) nhấn mạnh tới tình-trạng xã-hội đang nóng-bỏng, đặc-biệt ở Mỹ châu la-tinh.Vị tiền-nhiệm lớn của tôi, Gioan Phaolô II, để lại cho chúng ta ba thông-điệp xã-hội: Lao-động con người (1981), Vấn-đề xã-hội (1987) và cuối cùng là Năm thứ một trăm (1991). Cứ như thế, để đối-phó với những hoàn-cảnh và vấn-đề mới, học-thuyết xã-hội của Giáo-hội tiếp-tục lớn lên. Hội-đồng Công-lí và hoà-bình năm 2004 đã tóm-tắt nội-dung học-thuyết này theo từng đề-tài trong cuốn „Cẩm-nang về Học-thuyết xã-hội công giáo“ (Ghi-chú cùa người dịch: Bản tiếng Việt do đức ông Nguyễn Quang Sách dịch, Diễn-đàn Giáo-dân ấn-hành, năm 2004). Chủ-nghĩa Mác cho rằng cách-mạng thế-giới và việc chuẩn-bị cho cuộc cách-mạng đó là chìa khoá vạn-năng giải-quyết vấn-nạn xã-hội. Thuyết ấy bảo rằng cách-mạng và việc tập-thể hoá phương-tiện sản-xuất gắn liền với nó sẽ biến-đổi mọi sự trong phút-chốc trở nên tốt-đẹp hơn. Nhưng giấc mơ đó đã tiêu-tan. Trong hoàn-cảnh khó-khăn chúng ta đang sống với tiến-trình toàn cầu hoá kinh-tế hôm nay, học-thuyết xã-hội của Giáo-hội không chỉ là định hướng cho tín-hữu chúng ta, mà cả cho cả những tập-thể ngoài Giáo-hội. Những định hướng đó – trước tình-hình phát-triển ngày càng tăng – cần phải được nỗ-lực thực-hiện qua đối-thoại với tất-cả những ai hằng quan-tâm tới con người và thế-giới.

 

28.

Bây giờ, để tương-quan giữa nỗ-lực thực-hiện công-lí và công-tác tình-yêu được sáng tỏ hơn, chúng ta phải quan-tâm hai điểm nền-tảng:

a) Trách-nhiệm chính của chính-trị là tạo trật-tự công-bằng cho xã-hội và quốc-gia. Một nhà-nước không được cai-trị bằng công-lí thì nhà-nước đó chỉ là một băng cướp, như thánh An-tịnh đã có lần nói: „ Remota itaque iustitia quid sunt regna nisi magna latrocinia?“ [18]. Cơ-cấu nền-tảng của Kitô giáo là phân-biệt cái gì của Chúa, cái gì của hoàng-đế (xem Mt 22, 21), nghĩa là tách-biệt nhà-nước và Giáo-hội, hay nói như công-đồng Vatican II là sự độc-lập của các lãnh-vực trần-thế [19]. Nhà-nước không có quyền ra lệnh cho tôn-giáo, nhưng phải bảo-đảm tự-do và hoà-bình giữa các tín-đồ các tôn-giáo. Là biểu-hiện xã-hội của niềm tin, Giáo-hội, về phía mình, có sự độc-lập của nó và nó có hình-thức sống cộng-đoàn riêng dựa trên nền-tảng đức tin mà nhà-nước phải kính-trọng. Hai khu-vực khác nhau, nhưng có liên-hệ với nhau.

 

Công-lí là mục-tiêu và do đó cũng là thước đo đích-thực của mọi chính-sách. Chính-trị không hẳn chỉ là kĩ-thuật thực-hiện trật-tự công: Nguồn-gốc và mục-đích của nó chính là công-lí, và công-lí là chuyện mang tính đạo-đức. Như vậy, nhà-nước trên thực-tế luôn phải đối-diện với câu hỏi: Làm sao thực-hiện công-lí ngay lúc này ở đây ? Nhưng câu hỏi này hàm-chứa một câu hỏi khác nền-tảng hơn: Công-lí là gì ? Đó là một câu hỏi của lí-trí thực-tiễn. Nhưng để lí-trí có thể hoạt-động đúng, nó luôn phải được thanh-lọc, bởi vì nó khó tránh khỏi nguy-cơ bị mây mù đạo-đức che khuất, thứ mây mù tạo nên bởi nỗi chóa mắt trước quyền-lợi và quyền-lực. Nguy-cơ đó chẳng bao giờ biến mất.

 

Đây là chỗ có sự đụng-chạm giữa chính-trị và đức tin. Rõ-ràng, tự bản-chất, đức tin là cuộc gặp-gỡ Thiên-chúa sống-động – một cuộc gặp-gỡ mở ra cho ta những chân trời mới vượt xa chân trời lí-trí. Nhưng đồng thời nó cũng là lực thanh-tẩy cho chính lí-trí. Khởi đi từ góc-độ Thiên-chúa, nó giải-thoát lí-trí khỏi sự mù-quáng và nhờ vậy giúp lí-trí trở thành chính nó một cách tốt-đẹp hơn. Nó giúp lí-trí hoàn-thành công-việc của nó tốt-đẹp và nhìn thấy sự-việc của nó rõ hơn. Đây chính là chỗ áp-dụng của học-thuyết xã-hội công giáo: Học-thuyết này không muốn giúp cho Giáo-hội có nhiều quyền-lực hơn nhà-nước; nó cũng không muốn gây áp-chế trên lối nhìn và cách hành-xử của những ai không đồng niềm tin với Giáo-hội. Nó chỉ muốn góp phần thanh-lọc lí-trí và giúp con người nhìn thấy được cái đúng lúc này và ở đây để rồi có thể thực-hiện cái đúng đó.

 

Học-thuyết xã-hội của Giáo-hội đặt nền lí-luận trên lí-trí và quyền tự-nhiên, nghĩa là trên những gì là bản-chất của mọi con người. Nó không đòi-hỏi Giáo-hội phải tìm cách thực-hiện nó bằng con đường chính-trị, và đây không phải là trách-nhiệm của Giáo-hội. Ước-muốn của nó là phục-vụ công-tác đào-tạo lương-tâm trong lãnh-vực chính-trị và giúp làm nẩy-nở việc nhận-thức các yêu-cầu thật-sự của công-lí và gia-tăng ý-chí sẵn-sàng thực-hiện những yêu-cầu đó, cho dù phải chống lại quan-điểm quyền-lợi số đông. Điều đó có nghĩa là việc kiến-tạo một trật-tự công-bằng cho xã-hội và nhà-nước, qua đó mỗi người có được phần của mình phải có, là một trách-nhiệm nền-tảng mà mỗi thế-hệ phải luôn đặt ra lại. Đây là một trách-nhiệm chính-trị, không thể là trách-nhiệm trực-tiếp của Giáo-hội. Nhưng vì đây cũng là một trách-nhiệm nền-tảng của con người, nên Giáo-hội có bổn-phận đóng-góp theo cách-thế của mình, bằng qua việc thanh-lọc lí-trí và huấn-luyện đạo-đức, ngõ-hầu các đòi-hỏi công-lí được dễ nhận ra và có thể thực-hiện được bằng chính-trị.

 

Giáo-hội không thể và không được nhảy vào lãnh-vực đấu-tranh chính-trị, với lí-do là để kiến-tạo một xã-hội thật công-bằng. Giáo-hội không thể và không được choán chỗ của nhà-nước. Nhưng Giáo-hội có thể và được quyền tham-gia vào việc kiến-tạo công-lí. Giáo-hội phải đóng vai-trò mình bằng con đường lí-luận và phải đánh thức dậy các lực tinh-thần. Bởi công-lí luôn đòi-hỏi hãm mình, nên nếu không có những lực này, nó không thể thực-hiện và triển-nở được. Trách-nhiệm tạo-lập xã-hội công-bằng không phải của Giáo-hội, mà của chính-trị. Nhưng Giáo-hội mang trách-nhiệm lớn trong nỗ-lực kiến-tạo công-lí bằng cách gia-tăng nhận-thức và ý-chí cho các đòi-hỏi thiện-ích.

b) Tình yêu – Caritas – luôn cần-thiết, ngay cả cho một xã-hội đã có công-lí toàn-hảo. Chẳng có một trật-tự nhà-nước công-bằng nào có thể làm cho công-tác tình yêu ra thừa-thãi. Dẹp-bỏ tình yêu cũng có nghĩa là dẹp-bỏ con người như là người. Hễ còn có đau-khổ, là còn cần ủi-an và giúp-đỡ. Bao lâu còn cô-đơn, còn tình-trạng đói-nghèo vật-chất, bấy lâu giúp-đỡ bác-ái vẫn cần [20]. Một nhà-nước muốn ôm vào mình hết mọi công-tác phúc-lợi, nhà-nước đó cuối cùng chỉ là một cơ-chế bàn-giấy. Nhà-nước đó sẽ không thể cung-cấp cho mọi người khổ-đau cái cần-thiết nhất, đó là sự chăm-sóc cá-nhân đầy tình thương. Chúng ta không cần một nhà-nước ấn-định và quản-trị mọi chuyện, nhưng cần một nhà-nước đại-độ chấp-nhận và yểm-trợ những sáng-kiến dựa trên nguyên-tắc phụ-đới, những sáng-kiến đến từ các lực-lượng xã-hội khác nhau và chúng nối liền tính tự-phát với sự gần-gũi những người cần giúp-đỡ. Giáo-hội là một lực sống-động, vì trong nó có lực năng-động của tình yêu toát ra từ thần-khí đức Kitô. Tình yêu này không chỉ cung-cấp cho con người sự giúp-đỡ vật-chất, nhưng cả trợ-lực tâm-linh, thứ mà nhiều khi còn cần hơn trợ-giúp vật-chất. Cơ-chế công-bằng sẽ khiến công-tác bác-ái thành ra vô-ích! Câu quyết-đoán này cho thấy một cái nhìn thuần-tuý vật-chất về con người, rằng con người „chỉ sống bởi bánh“ (Mt 4, 4; xem Tl 8, 3). Cái nhìn này hạ giá con người và rõ-ràng coi thường nhân tính.

 

29.

Như thế, giờ đây chúng ta có thể xác-định rõ hơn về tương-quan giữa một bên là nỗ-lực kiến-tạo trật-tự xã-hội và nhà-nước công-bằng và bên kia là công-tác tình yêu tập-thể và có tổ-chức trong cuộc sống Giáo-hội. Kết-quả tìm hiểu trên cho thấy việc xây-dựng cơ-chế công-bằng không phải là trách-nhiệm trực-tiếp của Giáo-hội, mà của trật-tự chính-trị, nghĩa là một lãnh-vực thuộc lí-trí tự trách-nhiệm lấy. Ở đây, Giáo-hội có trách-nhiệm gián-tiếp qua việc thanh-lọc lí-trí và khơi dậy các lực đạo-đức; không có hai điều này, các cơ-chế công-bằng không thể xây-dựng và bền vững lâu dài.

 

Trách-nhiệm trực-tiếp trong việc kiến-tạo một trật-tự xã-hội công-bằng, trái lại, hẳn nằm nơi người giáo-dân. Là công-dân, họ được mời-gọi tham-gia cá-nhân vào đời sống công-cộng. Vì thế họ không thể từ-chối can-dự vào „những sáng-kiến nhiều sắc-thái trên bình-diện kinh-tế, xã-hội, pháp-luật, hành-chánh và văn-hoá, có mục-đích cổ-võ công-ích một cách có tổ-chức“ [21]. Trách-nhiệm của tín-hữu giáo-dân, như vậy, là kiến-tạo một đời sống xã-hội đúng-đắn, trong đó vừa kính-trọng sự độc-lập chính-đáng của kẻ khác vừa cộng-tác với họ tùy theo khả-năng và trách-nhiệm riêng [22]. Ngay cả nếu như những hình-thức thể-hiện cá-biệt về công-tác bác-ái của Giáo-hội không bao giờ được phép xem ngang hàng với hoạt-động của nhà-nước, thì điều chắc-chắn là tình yêu phải thấm-đượm cả cuộc sống của người giáo-dân, và như thế cả trên hoạt-động chính-trị của họ; tình yêu trên địa-hạt chính-trị này có thể gọi là thứ „tình yêu xã-hội“ [23].

 

Các tổ-chức bác-ái của Giáo-hội, trái lại, nói lên cái cá-biệt của trách-vụ nền-tảng (opus propium) của Giáo-hội, qua đó Giáo-hội không tham-gia với tính-cách hỗ-trợ bên cạnh, nhưng hành-động như là chủ-thể trách-nhiệm trực-tiếp và làm những gì hợp với bản-chất mình. Giáo-hội không bao giờ được phép miễn cho mình việc thi-hành công-tác bác-ái như là sinh-hoạt có tổ-chức của tập-thể tín-hữu. Mặt khác, cũng chẳng bao giờ có tình-trạng trong đó hành-động bác-ái cá-nhân trở nên vô-ích, là vì con người cần và luôn cần tình yêu, dù họ đã đạt được công-lí.

 

Những cơ-cấu đa diện của công-tác tình yêu trong môi-trường xã-hội hôm nay

 

30.

Trước khi cố-gắng xác-định tính cá-biệt về công-tác bác-ái của Giáo-hội, tôi muốn giờ đây nhìn qua tình-hình tổng-quát trong nỗ-lực thực-hiện công-lí và tình yêu trong thế-giới ngày nay.

a) Các phương-tiện truyền-thông đại-chúng ngày nay đã làm cho địa-cầu chúng ta nhỏ lại, khi chúng nhanh-chóng đưa những con người và văn-hoá rất khác nhau lại gần nhau. Dù việc „sống chung“ này đôi khi tạo ra hiểu lầm và xung-đột, song trên thực-tế người ta biết tới thiếu-thốn của nhau trực-tiếp hơn, nhất là khi có những tiếng kêu cứu gặp nạn,. Hàng ngày, chúng ta nghe thấy bao nhiêu đau-khổ vì thiếu-thốn vật-chất và tinh-thần vang lên khắp nơi, cho dù thế-giới đã có những bước tiến lớn trên lãnh-vực khoa-học và kĩ-thuật. Điều này đòi-hỏi một thái-độ sẵn-sàng giúp-đỡ tha-nhân gặp nạn mới nơi chúng ta. Ngay công-đồng Vatican II cũng đã nhấn mạnh điểm này rất rõ-ràng: „Ngày nay, nhờ phương-tiện truyền-thông hoạt-động ngày càng hoàn-hảo hơn, khoảng-cách giữa người với người có thể nói đã được vượt qua […] công-tác bác-ái có thể và phải mở ra cho mọi người và mọi thiếu-thốn“[24].

 

Mặt khác – và đây cũng là mặt vừa thử-thách vừa hi-vọng của tiến-trình toàn cầu hoá – chúng ta ngày nay nắm trong tay vô số phương-tiện để mang cứu-trợ nhân-đạo tới tay anh chị em đau-khổ, đặc-biệt là các hệ-thống tân-tiến phân-phối thực-phẩm và quần áo cũng như các khả-năng tiếp-cư và tạm cư. Như vậy, công-tác bác-ái đã vượt biên-giới quốc-gia vươn ra chân trời toàn cầu. Công-đồng Vatican II đã có lí khi nhấn mạnh: „Trong các dấu-chỉ thời-đại chúng ta, tinh-thần đoàn-kết gia-tăng và không cưỡng lại được giữa các dân-tộc đáng được đặc-biệt ghi-nhận“ [25]. Các tổ-chức chính-phủ và hội-đoàn nhân-đạo hỗ-trợ các sáng-kiến nhắm tới mục-tiêu đó, người này với những yểm-trợ và giảm thuế, người kia với những khoản tiền giúp-đỡ lớn. Như thế, sự liên-đới của tập-thể đã vượt xa liên-đới cá-nhân.

b) Tình-cảnh đó đã làm nẩy sinh và lớn mạnh nhiều hình-thức liên-kết hoạt-động giữa các tổ-chức nhà-nước và giáo-hội và đã tạo được hoa trái. Với cách hoạt-động trong-sáng và việc trung-thành chu-toàn nhiệm-vụ chứng-nhân tình yêu của mình, các tổ-chức giáo-hội cũng có thể thổi được tinh-thần kitô giáo vào các tổ-chức dân-sự, và giúp tạo ra được một sự trao-đổi qua lại chắc-chắn làm cho công-tác bác-ái thêm hữu-hiệu [26}. Trong khung-cảnh này, nhiều tổ-chức bác-ái hoặc thân-hữu đủ loại cũng đã được hình thành và, đối-diện với các vấn-đề chính-trị và xã-hội tồn-tại, đã cùng nhau dấn-thân để đạt được những giải-pháp tốt-đẹp về mặt nhân-đạo. Một hiện-tượng quan-trọng trong thời-đại chúng ta là việc nẩy sinh và lan rộng nhiều loại hình thiện-nguyện và họ đã đảm-nhận nhiều loại công-tác phục-vụ [27]. Tôi muốn đặc-biệt gởi lời thán-phục và cám-ơn tới tất-cả những tổ-chức thiện-nguyện muôn màu muôn vẻ đó. Việc dấn-thân rộng-rãi này đã là trường học sống cho tuổi trẻ, giúp họ biết đoàn-kết và sẵn-sàng cho đi chính mình, chứ không phải cho đi một cái gì khác. Như vậy, văn-hoá sự chết, biểu-hiện qua nạn nghiện-ngập chẳng hạn, đã bị đối-thủ tình yêu án-ngữ; đối-thủ này không tìm-kiếm gì cho mình, nhưng sẵn-sàng hiến mình cho kẻ khác (xem Lc 17, 33) để minh-chứng cho nền văn-hoá sự sống.

 

Cả trong giáo-hội Công giáo và trong các giáo-hội cũng như cộng-đoàn giáo-hội khác cũng đã nẩy sinh nhiều hình-thức công-tác bác-ái mới và tất-cả đều tràn đầy sức sống cũ mới. Những hình-thức đó thường thành-công trong việc nối-kết công-tác bác-ái với việc phúc-âm hoá. Tôi muốn đặc-biệt nhấn mạnh ở đây điều mà vị tiền nhiệm của tôi Gioan Phaolô II đã viết trong thông-điệp Vấn-đề xã-hội [28], khi ngài tuyên-bố giáo-hội Công giáo sẵn-sàng cộng-tác với các tổ-chức bác-ái trong các giáo-hội và cộng-đoàn giáo-hội khác, bởi vì tất-cả chúng ta đều hành-động xuất-phát từ một động-cơ căn-bản, và như thế đều có cùng một mục-tiêu trước mắt: một nền nhân-bản thật, trong đó con người được công-nhận là hình-ảnh Thiên-chúa và cần được giúp-đỡ để được sống đúng với phẩm-giá đó. Thông-điệp Để họ nên một tiếp đó nhấn mạnh thêm, là các tín-hữu Kitô giáo cần có một tiếng nói chung và cần dấn-thân để đưa thế-giới về hướng tốt-đẹp hơn, hầu „ tạo chiến-thắng cho việc tôn-trọng các quyền và nhu-cầu của mọi người, đặc-biệt của người nghèo, của kẻ bị chà-đạp và kẻ cô thân yếu thế“ [29]. Tôi muốn nói lên niềm vui của tôi ở đây là mong-ước này đã có được âm vang trong nhiều tổ-chức trên khắp thế-giới.

 

Tính cá-biệt của công-tác tình yêu của Giáo-hội

 

31.

Việc gia-tăng nhiều loại tổ-chức bác-ái giúp người hoạn-nạn đủ loại rốt-cuộc nói lên điều này, là lệnh yêu người đã được chính Tạo-hoá khắc-ghi trong bản-chất con người. Đó cũng là kết-quả của sự hiện-diện Kitô giáo trên thế-giới, một tôn-giáo luôn đánh thức dậy cái lệnh thường hay bị che kín trong quá-trình lịch-sử và giúp nó được thực-hiện. Việc cải-cách ngẫu giáo của hoàng-đế Julian Cải Giáo chỉ là một thí-dụ khởi đầu cho sự thực-hiện đó. Trong ý-nghĩa đó, sức mạnh Kitô giáo đã vượt xa ra ngoài biên-giới đức tin kitô giáo. Vì thế, điều quan-trọng là phải làm sao cho công-tác bác-ái của Giáo-hội giữ được lực hào-quang sáng chói của nó, không coi nó như là một việc làm thường-tình có thể thay-thế được bởi bất cứ một tổ-chức phúc-lợi nào khác. Vậy đâu là những yếu-tố nền-tảng của công-tác bác-ái của Giáo-hội và của Kitô giáo?

a) Như gương người Samarita nhân-hậu cho thấy, công-tác tình yêu kitô giáo trước hết và đơn giản là một trả lời trước một tình-trạng khó-khăn cụ-thể trực-tiếp: Người đói cần được ăn, kẻ trần-truồng cần áo mặc, người bệnh cần được chữa, người tù cần được thăm v.v.. Các cơ-quan bác-ái của Giáo-hội – bắt đầu từ tổ-chức Caritas (cấp giáo-phận, quốc-gia và quốc-tế) – phải làm sao để có phương-tiện giúp-đỡ và nhất là để có người đảm-trách những công-việc đó. Rồi công-tác cứu-giúp cũng đòi-hỏi khả-năng của người thi-hành: Họ phải được huấn-luyện để có thể áp-dụng luật cho đúng và biết cách chăm-sóc cho kết-quả. Khả-năng nghiệp-vụ là điều đầu tiên và căn-bản, nhưng chỉ có vậy thôi thì không đủ. Đây là lãnh-vực liên-quan đến con người, mà con người thì luôn cần nhiều thứ hơn là khả-năng kĩ-thuật chăm-sóc của người hành-xử. Họ cần tình người. Họ cần sự đoái-hoài của con tim. Tất-cả những ai công-tác trong các tổ-chức bác-ái của Giáo-hội phải chứng-tỏ có khả-năng, ngoài việc giải-quyết vấn-đề trước mắt, tiếp-cận kẻ khác bằng con tim, làm sao để kẻ tới với mình cảm được lòng tốt của mình. Vì thế, bên cạnh việc huấn-luyện nghiệp-vụ chuyên-môn, các nhân-viên bác-ái cần được huấn-luyện tâm-hồn: Họ phải được dẫn tới gặp Chúa trong đức Kitô, vị đã đánh thức dậy tình yêu trong họ và mở lòng họ ra cho tha-nhân, để tình yêu tha-nhân đối với họ không còn là một cái gì có thể gọi là trói-buộc từ bên ngoài nữa, song là hậu-quả của đức tin thể-hiện thành tình yêu (xem Ga 5, 6).

b) Hành-động tình yêu kitô giáo phải độc-lập với chính-đảng và ý-hệ. Nó không phải là một phương-tiện cải-tạo thế-giới được lái bởi ý-hệ và phục-vụ cho những chiến-lược trần-thế, nhưng là sự hiện-tại hoá tình yêu lúc này và ở đây hầu đáp-ứng yêu-cầu của con người. Trong thời mới, đặc-biệt từ thế-kỉ 19, có một thứ triết-lí tiến-bộ rất thịnh-hành. Triết-lí này mang nhiều bộ mặt khác nhau, trong đó chủ-nghĩa mác-xít là biểu-hiện cực-đoan nhất. Chủ-nghĩa này đề ra thuyết bần-cùng hoá, theo đó, ai bác-ái cứu người trong một chính-thể bất công, kẻ đó đương-nhiên đứng vào phe phục-vụ chính-thể bất công đó, bởi vì kẻ đó góp phần tạo cho sự bần-cùng có bộ mặt nhẹ-nhàng có thể chịu-đựng được. Như vậy, kẻ đó cản bước tiềm-năng cách-mạng và chắn đường đi lên của thế-giới. Công-tác bác-ái, do đó, bị gán cho tội đồng-loã và bị tấn-công. Nhưng thực-tế cho thấy đó là một triết-lí bất nhân. Cuộc sống con người hiện-tại bị hi-sinh cho con quái-vật tương-lai, một tương-lai không ai biết chắc sẽ ra như thế nào. Thật ra, ta chẳng giúp gì được cho tình người trên thế-giới triển-nở, khi ta tạm gác tình người đó vào một xó. Ta chỉ góp phần làm đẹp thế-giới , khi chính ta ngay lúc này làm điều thiện, làm với đam-mê và làm bất cứ chỗ nào có thể, không lệ-thuộc vào cương-lĩnh hay chiến-lược đảng-phái. Cương-lĩnh của kitô-hữu – cương-lĩnh của người Samarita nhân-hậu, cương-lĩnh của đức Jesu – là „quả tim thấy“. Quả tim này thấy đâu cần tình yêu là hành-động theo đó. Nếu công-tác bác-ái của Giáo-hội được thực-hiện như là sáng-kiến tập-thể, thì, ngoài tính tự-phát của cá-nhân ra, chúng cũng cần có kế-hoạch, được chăm-sóc và cần cộng-tác với các tổ-chức tương-tự khác.

c) Ngoài ra, công-tác bác-ái không được dùng làm phương-tiện cho cái mà ngày nay người ta gọi là „chủ-trương cải đạo“. Tình yêu là nhưng-không; nó không được dùng để đạt những mục-tiêu khác [30]. Nhưng điều này không có nghĩa là phải gạt Chúa và đức Kitô ngoài khi làm việc bác-ái. Bác-ái luôn đụng-chạm tới cả con người toàn-diện. Nhiều khi nguyên-nhân sâu-xa tạo ra khổ-đau là vì thiếu Chúa. Không bao giờ tìm cách đẩy người khác vào đạo khi làm việc bác-ái. Ta hiểu rằng tình yêu tinh-tuyền và không hậu ý là chứng-tá hay nhất về Chúa, là đấng yêu ta và thúc-đẩy ta yêu. Kitô-hữu biết đâu là lúc nên nói về Chúa và đâu là lúc nên im-lặng và để cho tình yêu nói thay. Họ biết Chúa là tình yêu (xem 1 Gi 4, 8) và nơi đâu ta thực-thi tình yêu thuần-tuý, ở đấy Ngài sẽ xuất hiện. Ta biết rằng – để trở lại với câu hỏi ở trên – khinh-thường tình yêu cũng có nghĩa là khinh-thường Chúa và con người; đó là thái-độ tìm cách qua mặt Chúa. Vì thế, cách bảo-vệ Chúa và con người hay nhất là bằng tình yêu. Nhiệm-vụ các tổ-chức bác-ái giáo-hội là làm gia-tăng ý-thức đó nơi những người đại-diện của họ, để lời nói, việc làm, sự im lặng, gương sống họ trở thành chứng-tá đáng tin cho Chúa Kitô.

 

Các cơ-quan bác-ái của Giáo-hội

 

32.

Cuối cùng, chúng ta phải trở lại với các cơ-quan bác-ái của Giáo-hội đã nhắc tới trên đây. Qua những suy-tư vừa rồi, chúng ta hiểu rằng chủ-thể của mọi tổ-chức bác-ái giáo-hội là chính Giáo-hội thuộc mọi cấp, từ các họ đạo qua giáo-hội địa-phương tới Giáo-hội hoàn-vũ. Vì thế vị tiền nhiệm đáng kính của tôi Phaolô VI đã rất có lý khi lập ra „Hội-đồng Giáo-chủ Cor Unum“ làm cơ-quan trách-nhiệm việc hướng-dẫn và điều-hợp cho các tổ-chức và công-tác bác-ái do Giáo-hội hỗ-trợ. Phù-hợp với cơ-cấu giám-mục của Giáo-hội, các giám-mục địa-phương, với tư-cách kế-thừa các tông-đồ, là người đầu-tiên có trách-nhiệm thực-hiện tiếp-tục chương-trình của Sứ-vụ Tông-đồ (xem 2, 42-44): Là gia-đình Thiên-chúa, Giáo-hội hôm qua cũng như hôm nay phải là nơi tương-trợ nhau và đồng thời là nơi sẵn-sàng phục-vụ tất-cả những ai cần giúp, dù người đó có thuộc về Giáo-hội hay không. Trong lễ truyền chức giám-mục, ngay trước lúc trao chức, ứng-viên được hỏi và trả lời về những yếu-tố căn-bản liên-quan tới tác-vụ cũng như được cắt-nghĩa về các trách-nhiệm tương-lai của mình. Qua đó, ứng-viên giám-mục đã đoan-hứa: „sẽ vì Chúa Kitô yêu thương giúp-đỡ người nghèo, kẻ mất quê-hương và tất-cả những người khổ-đau hoạn-nạn và đối-xử nhân-hậu với họ“ [31]. Trong các khoản liên-quan tới giám-mục, Luật giáo-hội (C.I.C) không đặt ra một mục riêng cho công-tác bác-ái, nhưng chỉ đề-cập chung-chung về vai-trò của giám-mục, có nhiệm-vụ phối-hợp các công-tác tông-đồ trong khi vẫn giữ tính-cách cá-biệt của chúng [32]. Tuy-nhiên mới đây tài-liệu Hướng-dẫn công-việc mục-vụ của giám-mục đã đề-cập cụ-thể việc thi-hành công-tác bác-ái như là sứ-vụ nền-tảng của toàn-thể Giáo-hội và của các giám-mục giáo-phận [33], và đã nhấn mạnh rằng công-tác bác-ái là một hành-động tự-tại của Giáo-hội, và, cùng với rao-giảng lời Chúa và cử-hành bí-tích, nó làm thành sứ-vụ nền-tảng của Giáo-hội [34].

 

33.

Về phần liên-quan tới những người làm công-tác bác-ái, thì như tôi đã trình-bày điểm căn-bản: Họ không được làm vì ý-hệ cải-tạo thế-giới, nhưng phải làm vì niềm tin đã thể-hiện thành tình yêu (xem Ga 5, 6). Vì thế trước hết họ phải là những người đã sờ được tình yêu của đức Kitô, đã được tình yêu Chúa chiếm-hữu và tình yêu này đã đánh thức lòng mến tha-nhân nơi họ dậy.  Khẩu-hiệu của họ phải là câu trong thư thứ hai gởi giáo-đoàn Côrintô : „Tình yêu của Chúa Kitô thúc-đẩy chúng tôi“ (5, 14). Chúng ta biết rằng, Thiên-chúa đã tự hiến cho ta cho đến chết qua đức Kitô. Vì thế chúng ta không còn sống cho chính chúng ta, mà phải sống cho Chúa và với Chúa cho tha-nhân. Ai yêu Chúa Kitô là yêu Giáo-hội và muốn cho Giáo-hội ngày càng trở nên dấu-chỉ và dụng-cụ tình yêu Chúa. Nhân-viên của mọi tổ-chức bác-ái muốn cùng Giáo-hội và như thế cùng giám-mục mở rộng tình yêu Chúa ra cho thế-giới. Qua cộng-tác vào công-việc bác-ái của Giáo-hội, họ muốn làm chứng cho Thiên-chúa và đức Kitô và chính vì vậy họ làm việc thiện cho tha-nhân một cách không hậu ý.

 

34.

Khi đã mở lòng ra cho chiều-kích công-giáo của Giáo-hội thì nhân-viên bác-ái không thể không sẵn-sàng cộng-tác với các tổ-chức khác để phục-vụ các yêu-cầu khác-nhau cùa con người. Tuy-nhiên, khi cộng-tác, ta phải để ý đến tính cá-biệt của tổ-chức mình, phải làm sao để đáp-ứng được yêu-cầu của đức Kitô mong-đợi nơi môn-đệ Ngài. Thánh Phaolô đã dạy ta trong bài ca tình yêu của ngài (1 Co 13), là tình yêu không chỉ là một hành-động thuần-tuý: „Dù tôi có tặng hết của-cải và trao thân cho lửa mà không có tình yêu thì cũng chẳng lợi-ích gì cho tôi cả“ (V. 3). Bài ca này phải là đại hiến-chương cho mọi công-tác phục-vụ của Giáo-hội. Nó gói trọn mọi suy-tư của tôi về tình yêu trong thông-điệp này. Mọi hành-động thực-tiễn đều quá ít, nếu như tha-nhân không cảm-nhận được sự có mặt của tình yêu trong dó, một tình yêu được nuôi-dưỡng bằng việc gặp-gỡ Chúa Kitô. Khi tôi tham-dự một cách trực-tiếp và sâu-xa vào nỗi đau-khổ và túng-quẫn của kẻ khác, khi đó tôi chia đi một phần chính tôi cho người đó: Để của cho không làm hạ giá kẻ được cho, tôi không chỉ trao cho người tặng-vật mà thôi, mà còn tặng họ chính sự hiện-diện của tôi trong đó.

 

35.

Lối phục-vụ đúng-đắn đó làm người cho trở nên khiêm-tốn. Họ không tự nâng mình lên vị-trí cao hơn khi đứng trước tha-nhân hoặc trước cảnh bất hạnh cùng-cực của tha-nhân lúc đó. Chúa Kitô đã đứng vào chỗ cuối cùng trong trần-thế, đó là thánh-giá. Và chính với sự khiêm-tốn cùng-cực đó Ngài đã cứu-chữa ta và tiếp-tục giúp ta. Ai có được khả-năng giúp người, kẻ đó nhận ra rằng qua đó chính họ cũng nhận được giúp-đỡ, và rằng khả-năng này không do từ công-lao và tầm-vóc mình mà có. Nhiệm-vụ này là một hồng-ân. Càng giúp kẻ khác, ta càng hiểu và thấm-nhuần lời đức Kitô: „Chúng ta là những tôi-tớ vô dụng“ (Lc 17, 10). Là vì ta nhận ra rằng ta hành-động không phải vì ta đặc-biệt hay vì có khả-năng hơn người, nhưng là vì Chúa đã cho chúng ta khả-năng đó. Đôi lúc mức-độ đau-khổ quá lớn có thể khiến ta ngã-lòng. Nhưng chính lúc đó sẽ giúp ta hiểu rằng, rốt cuộc mình cũng chỉ là dụng-cụ trong tay Chúa, nó giải-thoát ta khỏi tính kiêu-căng khi nghĩ rằng mình có thể tự sức đổi mới được thế-giới. Ta sẽ làm một cách khiêm-tốn những gì có thể làm được và khiêm-tốn trao cho Chúa những gì còn lại. Thiên-chúa cai-quản vũ-trụ, chứ không phải chúng ta. Chúng ta chỉ phục-vụ Ngài trong khả-năng có thể và bao lâu Ngài còn cho ta sức làm. Với sức này chúng ta làm hết những gì ta có thể, đó là nhiệm-vụ luôn thúc-đẩy người theo Chúa chân-chính: „Tình yêu của Chúa Kitô thúc-đẩy chúng tôi“ (2 Co 5, 14).

 

36.

Kinh-nghiệm về sự vô tận của khổ-đau, một mặt, có thể đưa ta tới ý-hệ bắt mình lúc này phải làm những gì mà Chúa cai-quản vũ-trụ xem ra không đòi-hỏi, đó là tìm ra giải-pháp chung cho mọi vấn-đề. Nhưng mặt khác, nó có thể khiến ta đâm ra ù-lì, vì thấy rằng chuyện mình làm chẳng ra đâu vào đâu cả. Trong hoàn-cảnh đó, chỉ có sự gặp-gỡ sống-động với Chúa Kitô mới giúp ta giữ đúng đường: không rơi vào thái-độ cao-ngạo khinh người chỉ phá-hoại chứ không xây-dựng, mà cũng không để thất-vọng cản lối tình yêu phục-vụ tha-nhân. Cầu-nguyện là điều cấp-thiết, nó giúp ta luôn múc lấy nguồn lực mới nơi Chúa Kitô. Cầu-nguyện không làm mất giờ, dù tình-thế trước mắt xem ra khẩn-cấp và buộc ta phải hành-động gấp. Lòng ngoan-đạo không làm yếu đi cuộc đấu-tranh chống lại nghèo-đói hoặc ngay cả nỗi bần-hàn của kẻ khác. Gương chân-phước Têrêxa ở Calcutta cho ta thấy thời-gian dành cho Chúa trong cầu-nguyện không những không làm hại việc thực-thi bác-ái, mà thực-tế trái lại đó là nguồn trợ-lực vô tận cho công-tác đó. Trong lá thư mùa chay năm 1996 Mẹ viết cho các cộng-tác viên giáo-dân của mình: „ Chúng ta cần sự gắn-bó nội-tâm với Chúa trong cuộc sống hàng ngày. Và làm sao để có được điều đó? Qua cầu-nguyện“.

 

37.

Trước chủ-trương vọng-động và tiến-trình tục-hoá đầy đe-doạ hiện nay, đây là lúc nhiều kitô-hữu đang công-tác bác-ái cần xác-định lại ý-nghĩa của cầu-nguyện. Người cầu-nguyện dĩ-nhiên không viễn-mơ chuyện sửa-đổi chương-trình của Chúa hay sẽ làm tốt hơn những dự-định của Ngài. Nhưng đúng hơn họ tìm gặp Cha của đức Jesu Kitô để xin Ngài với sự ủi-an của Thánh-thần Ngài luôn hiện-diện trong họ và trong công-việc của họ. Lòng cậy-trông vào Chúa và sẵn-sàng chấp-nhận thánh ý Ngài giúp ta tránh được tổn-thương và giữ ta khỏi rơi vào các tà-thuyết cực-đoan và khủng-bố. Một thái-độ tôn-giáo chân-chính không cho phép ta làm quan-toà để kết án Thiên-chúa đã cho phép cảnh bần-cùng đi vào trần-gian và đã vô tâm với nỗi thống-khổ của con người. Ai cả gan vì quyền-lợi con người chống lại Thiên-chúa ? Như vậy, khi hành-động của con người tỏ ra bất lực, thì người đó còn biết trông-cậy vào ai?

 

38.

Dĩ-nhiên Gióp có thể than-trách Chúa về nỗi khổ-đau khó hiểu và trước mắt xem ra bất công có mặt trong trần-gian. Ông nói trong cơn đau: „Ôi! Ai sẽ chỉ cho tôi biết tìm Người ở đâu, và làm sao tới tận nơi Người ở!… Tôi muốn biết tiếng Người trả lời và hiểu được điều Người nói với tôi. Người có cần đem hết sức để tranh-luận với tôi? … Chính vì vậy mà tôi kinh-hãi trước mặt Người; tôi càng nghĩ tới, Người càng làm cho tôi sợ-hãi. Chúa đã làm lòng tôi mềm nhũn, và Kẻ toàn-năng đã chất đầy kinh-hoàng trên tôi“ (23, 3. 5-6. 15-16). Ta thường không hiểu được lí-do tại sao Chúa thay vì đưa tay ra can-thiệp thì lại giữ im-lặng. Lại nữa, Ngài cũng đã chẳng một lần cấm ta la lên như đức Kitô trên thánh-giá đã kêu: „Lạy Chúa, lạy Chúa, sao Chúa bỏ con?“ (Mt 27, 46). Có-lẽ trong đối-đáp cầu-nguyện trước mặt Ngài ta phải tiếp-tục hỏi: „Ngài còn do-dự đến bao giờ nữa, hỡi Thầy chí-thánh và chân-thật?“ (Kh 6, 10). Thánh An-tịnh cho ta câu trả lời đức tin về nỗi đau-khổ này của ta: “Si comprehendis, non est Deus“ – Nếu hiểu Ngài thì Ngài đâu còn là Chúa nữa. [35]. Ta không muốn thử-thách Chúa bằng sự chống-đối của ta, cũng không muốn bảo rằng Ngài lầm, hèn-yếu hay vô tâm. Người tin Chúa không thể nghĩ rằng Ngài bất lực hoặc „ngủ quên“ (xem 1 Cv 18, 27). Đúng hơn, tiếng kêu của ta, cũng như tiếng kêu của đức Jesu trên thánh-giá, là sự xác-nhận tột-cùng và thẳm sâu nhất của ta vào quyền-năng chúa-tể của Thiên-chúa. Dù những khó hiểu và những rối-mù của thế-giới, kitô-hữu thực ra vẫn tin vào „lòng tốt và thương người của Chúa“ (Ti 3, 4). Dù bị ngụp-lặn như bao người khác giữa muôn-vàn biến-cố bi-thảm và rắc-rối của lịch-sử, kitô-hữu vẫn bám chặt vào hi-vọng rằng Chúa là Cha mình và yêu thương mình, cho dù mình luôn không hiểu được nỗi im-lặng của Ngài.

 

39.

Đức tin, hi-vọng và tình yêu thuộc vào nhau. Hi-vọng thể-hiện qua đức kiên-nhẫn, dù gặp may hay xem ra thất-bại vẫn không sờn lòng. Nó cũng thể-hiện qua đức khiêm-nhường, sẵn-sàng chấp-nhận bí-mật của Chúa và dù phải lần-mò trong bóng tối vẫn trông-cậy vào Ngài. Đức tin chỉ cho ta Thiên-chúa, Đấng đã hiến Con Ngài cho ta, và nhờ đó nó giúp ta khẳng-định chắc-chắn rằng Chúa thật là tình yêu! Bằng cách đó, Chúa biến sự thiếu kiên-nhẫn và ngờ-vực của ta thành hi-vọng không nguôi rằng Chúa nắm thế-giới trong tay, và Ngài sẽ chiến-thắng dù nhiều bóng tối, như sách Khải-huyền cuối cùng đã chỉ cho thấy điều đó một cách chói-lọi qua những hình-ảnh khủng-khiếp. Đức tin, nghĩa là sự ý-thức tình yêu Thiên-chúa mạc-khải ra trong trái tim bị đâm thâu của đức Jesu trên thánh-giá, đến lượt nó lại tạo ra tình yêu. Tình yêu là tia sáng cuối-cùng và duy-nhất, tia sáng luôn rạng-chiếu thế-giới tăm-tối và cho ta can-đảm sống và hành-động. Tình yêu có thể thực-hiện được, và chúng ta có thể thực-hiện nó, vì chúng ta được tạo nên theo hình-ảnh của Thiên-chúa. Thực-hiện tình yêu và qua đó mở lối cho ánh-sáng Thiên-chúa chiếu vào trần-gian – đó là điều tôi muốn mời-gọi qua thông-điệp này.

 

Kết

 

40.

Cuối cùng, chúng ta hãy nhìn về các Thánh, những người đã thực-thi tình yêu một cách gương-mẫu. Chúng ta đặc-biệt nhớ lại thánh Martin ở Tours (mất năm 397), người lính về sau trở thành tu-sĩ và giám-mục: Qua ngài, giá-trị không thể thay-thế được của việc làm chứng tình yêu cá-nhân toả sáng như một bức tượng. Ngài chia áo choàng cho một người nghèo trước cửa thành Amiens. Đêm hôm sau, Chúa Jesu bận áo choàng hiện ra với ngài trong giấc mơ để chứng-nghiệm tính-cách đúng-đắn muôn đời của lời từ Phúc-âm: „Tôi trần-truồng, và các bạn đã cho tôi quần áo mặc… Những gì các bạn làm cho một trong những người anh em tôi bé-mọn nhất, là các bạn đã làm cho tôi“ (Mt 25, 36. 40) [36]. Và biết bao chứng-từ tình yêu chúng ta còn có thể nêu ra trong lịch-sử Giáo-hội! Một biểu-hiện đặc-biệt về công-tác tình yêu tha-nhân ta nhận thấy nơi toàn-thể phong-trào dòng tu vào giai-đoạn khởi đầu với thánh viện-phụ Antonius (mất 356). Khi „mặt đối mặt“ với Chúa, là đấng tình yêu, người tu-sĩ ấy cảm thấy có nhu-cầu cấp-bách muốn biến cả đời mình thành phục-vụ – phục-vụ Chúa và tha-nhân. Từ đó ta có thể giải-thích được sự có mặt của các nhà cứu-tế, các nhà cho người nghèo, các bệnh-xá bên cạnh các tu-viện. Và cũng từ đó xuất-hiện những sáng-kiến lớn cho sự tiến-bộ con người và cho việc giáo-dục kitô giáo, những sáng-kiến này trước hết được đưa ra vì những người cùng khổ nhất; ban đầu những người nghèo được các tu-viện và các dòng tu khất-thực giúp-đỡ, rồi về sau suốt dọc dài lịch-sử Giáo-hội, họ được đủ các loại dòng nam nữ đoái-hoài. Các thánh như Phanxicô ở Assisi, Y-nhã ở Loyola, Gioan Thiên-chúa, Camilô ở Lellis, Vinh-sơn ở Paul, Louise ở Marillac, Giuse Cottolengo, Goian Bosco, Luigi Orione và Têrêxa ở Calcutta – chỉ kể một vài tên tuổi  – là những tầm gương nổi tiếng cho tất-cả những người thiện-chí về công-tác bác-ái xã-hội. Các thánh là những người thật sự mang ánh sáng trong lịch-sử, vì các ngài là những người của lòng tin, cậy, mến.

 

41.

Nổi bật nhất giữa các thánh là mẹ Maria, mẹ của đức Kitô, tấm gương của mọi thánh-thiện. Trong Phúc-âm Luca, chúng ta thấy Mẹ trong một công-tác tình yêu cho người chị họ Elisabeth,  và đã ở lại „khoảng ba tháng“ (1,56) để giúp chị trong giai-đoạn mang thai cuối. Phúc-âm ghi lại lời Mẹ „Linh-hồn tôi ngợi-khen Chúa“ (Lc 1, 46), qua đó nói lên toàn-bộ chương-trình cuộc sống của Mẹ: không đặt mình vào điểm trung-tâm, nhưng dọn chỗ cho Chúa là Đấng Mẹ gặp-gỡ qua lời nguyện và qua công việc phục-vụ tha-nhân – chỉ có như thế thì thế-giới mới tốt-đẹp. Maria cao-trọng vì Mẹ không muốn tự khen mình, mà chỉ biết ngợi-khen Chúa. Mẹ khiêm-nhượng: Mẹ chẳng muốn gì ngoài làm một nữ-tì của Chúa (xem Lc 1, 38. 48). Mẹ biết rằng chỉ qua đó mình mới đóng-góp vào việc cứu-chuộc thế-giới, rằng Mẹ không muốn hoàn-thành công-tác riêng của mình, nhưng sẵn-sàng để cho công-việc của Chúa được thực-hiện nơi mình. Mẹ là kẻ cậy-trông: Chỉ vì Mẹ tin vào những lời hứa của Chúa và trông-chờ sự cứu-rỗi của Israel, nên thiên-thần đã tới với Mẹ và đưa Mẹ vào công-tác quyết-định cho những lời hứa đó. Mẹ là kẻ tin: Chị Elisabeth nói với Mẹ „Em được chúc phúc, vì em đã tin“ (xem Lc 1, 45). Bài ca Magnifikat cũng là bức hoạ tâm-hồn của Mẹ; nó được đan dệt hoàn-toàn bằng sợi Kinh-thánh, bằng sợi lời Chúa. Qua đó, ta thấy rõ Mẹ ở trong nhà Lời Chúa, thoải-mái đi ra bước vào trong đó. Mẹ nói và nghĩ với lời Chúa; lời Chúa trở thành lời Mẹ và lời Mẹ xuất-phát từ lời Chúa. Qua đó ta cũng thấy rõ là ý nghĩ tâm-tư Mẹ cũng nhịp đập theo ý nghĩ tâm-tư Chúa, ý muốn Mẹ cũng đồng-hành với ý muốn Chúa. Vì lời Chúa thấm-nhập vào tận thâm-tâm Mẹ, nên Mẹ có thể trở thành mẹ của ngôi Lời trở thành xương thịt. Cuối cùng: Mẹ là kẻ yêu. Làm sao khác đi được? Là kẻ tin và cùng nghĩ với ý nghĩ của Chúa trong đức tin, cùng muốn theo ý muốn của Chúa, thì Mẹ tất phải là một kẻ yêu. Chúng ta biết điều đó qua những cử-chỉ nhẹ-nhàng được Phúc-âm ghi lại trong các câu chuyện về thời niên-thiếu của đức Jesu. Chúng ta thấy điều đó qua thái-độ tế-nhị của Mẹ trong tiệc cưới Kana, khi Mẹ nhận ra khó-khăn của đôi tân hôn và mách với con mình.  Chúng ta thấy điều đó qua sự khiêm-tốn rút mình trong cuộc sống công-khai của Mẹ: lặng-lẽ khi biết con mình đã tới tuổi phải lập gia-đình, khi biết rằng giờ của mình chính là thánh-giá, và đó cũng là giờ thật của con mình (xem Yo 2, 4; 13, 1). Rồi, khi các môn-đồ bỏ trốn, Mẹ là người lặng-lẽ dưới chân thánh-giá (xem Yo. 19, 25-27), và sau nữa, trong giờ hiện xuống, lặng-lẽ khi các môn-đồ quây-quần bên mình chờ-đợi Chúa Thánh-linh (xem Cv 1, 14).

42.

Cuộc đời các thánh không chỉ gồm giai-đoạn sống ở trần-gian, mà cả cuộc sống và tác-động của Chúa sau khi các ngài mất. Qua các thánh ta thấy: Ai đi tới Chúa, thì không rời xa con người, nhưng lúc đó người đó mới thật-sự gần giữa họ. Điều này không đâu rõ bằng nơi Maria. Lời của đấng bị đóng đinh nói với môn-đệ Gioan và qua Gioan tới mọi môn-đệ của đức Jesu: „Nhìn kia, đó là mẹ Anh“ (Yo 19, 27), luôn đúng cho mọi thế-hệ. Maria thực-tế đã trở thành Mẹ của tất-cả những kẻ tin. Trong khốn-khó và trong hi-vọng, trong niềm vui và trong đau-khổ, trong cô-đơn và trong hợp-đoàn, con người mọi thời trên khắp thế-giới đều hướng về lòng nhân-từ cũng như sự trinh-trong và tuyệt-mĩ của Mẹ. Và họ đã luôn nhận được quà tặng của lòng nhân, của lượng tình yêu vô biên mà Mẹ đã trao-ban từ đáy tim mình. Những chứng-từ cám-ơn từ mọi lục-địa và mọi nền văn-hoá trao về Mẹ là minh-chứng của tình yêu tinh-tuyền kia, một tình yêu không đòi-hỏi gì cho mình, song đơn-giản chỉ muốn điều thiện. Lòng sùng-kính của các tín-hữu cũng đồng thời cho thấy cái cảm-nhận không sai vào đâu được về khả-năng hiện-hữu của tình yêu kia: Có được tình yêu đó là nhờ Mẹ liên-kết chặt-chẽ với Chúa, nhờ sự thấm-đượm tình yêu Chúa nơi Mẹ, nhờ Mẹ đã uống từ giếng tình yêu Chúa và chính mình đã trở nên nguồn suối yêu thương, „từ nguồn đó chảy ra những dòng nước sự sống“ (xem Yo 7, 38). Người trinh-nữ, người mẹ Maria chỉ cho chúng ta biết thế nào là tình yêu và chỉ cho ta biết tình yêu bắt nguồn và luôn múc lấy sức mạnh mới từ nơi đâu. Chúng ta phó-thác Giáo-hội và sứ-mạng phục-vụ tình yêu của Giáo-hội nơi Mẹ:

Lạy thánh Maria, Mẹ Thiên-chúa,

Mẹ đã tặng cho thế-giới

ánh sáng chân-thật

là Jesu, con của Mẹ – con của Chúa.

Mẹ đã hoàn-toàn

phó mình cho tiếng gọi của Chúa

và vì thế đã trở thành nguồn suối

tuôn trào sự tốt-lành.

Xin Mẹ chỉ cho chúng con Jesu. Xin Mẹ dẫn chúng con tới với Ngài.

Xin Mẹ dạy chúng con nhận biết và yêu-mến Ngài,

để chính chúng con

cũng trở thành

những kẻ yêu thực-sự

và thành nguồn suối sự sống

giữa một thế-giới khát nước.

 

Ra tại Rôma, nguyện đường thánh Phêrô, ngày 25 tháng 12, ngày đại lễ Giáng sinh trong năm 2005, năm đầu của sứ-vụ giáo-chủ.

Giáo tông Biển-đức XVI

[1] Xem Jenseits von Gut und Böse, IV, 168

[2] X, 69

[3] Xem Descartes, Oeuvres, biên-tập bởi V. Cousin, Tập 12, Paris 1824, Tr. 95 tt.

[4] II, 5; SCh 381, 196

[5] Như trên

[6] Xem Metaphysik, XII, 7

[7] Xem Pseudo Dionysius Areopagit, trong sách Über die göttlichen Namen, IV, 12-14: PG3, 709-713, ông gọi Thiên-chúa vừa là Eros vừa là Agape.

[8] Xem Symposion, XIV-XV, 189c-192d

[9] Sallust, De Coniuratione Catalinae, XX, 4

[10] Xem Augustinus, Confessiones, III, 6, 11: CCL 27, 32

[11] De Trinitate, VIII, 8, 12: CCL 50, 287

[12] Xem I Apologia, 67: PG 6, 429

[13] Xem Apologeticum 39, 7: PL 1, 468

[14]  Ep. Ad Rom., Inscr: PG 5, 801

[15] Xem Abrosius, De Officiis ministrorum, II, 28, 140: PL 16, 141

[16] Xem Ep. 83: J. Bidez, L´Empereur Julien. Œuvres complètes, Paris 19602 , t : I, 2a, Tr. 145

[17] Xem Apostolorum Successores (22. Feb. 04), 194, Vatican 2004, 2a, 205-206

[18] De Civitate Dei IV, 4: CCL 47, 102

[19] Xem Gaudium et Spes, 36

[20] Xem Apostolorum Successores (22. Feb. 04), 197, Vatican 2004, 2a, 209

[21] Johanes Paulus II, Christifideles laici (30. Dez. 1988), 42 : AAS 81 (1989), 427

[22] Xem Bộ tín-lí, Ghi-chú huấn-giáo về mấy câu hỏi liên-quan việc hành-xứ của người công giáo trong lãnh-vực chính-trị (24. Nov. 2002), 1 : Verlaubarungen des Apostolischen Stuhls 158

[23] Giáo-lí Công giáo, 1939

[24] Sắc-lệnh tông-đồ giáo-dân Apostolicam actuositatem, 8

[25] Như trên

[26] Xem Apostolorum Successores (22. Feb. 04), 195, Vatican 2004, 2a, 207

[27] Xem Joh. Paulus II, đã dẫn, 41: AAS 81 (1989), 470-472

[28] Xem. Nr. 32: AAS 80 (1988), 556

[29] Nr. 43: AAS 87 (1995), 946

[30] Xem Apostolorum Successores (22. Feb. 04), 196, Vatican 2004, 2a, 208

[31] Pontificale Romanum, De ordinatione episcope, 43

[32] Xem Can. 394; Luật Giáo-hội Công giáo Đông phương, Can. 203

[33] Xem Apostolorum Successores, 193-198, đã dẫn, 204-210

[34] Như trên

[35] Sermo 52, 16: PL 38, 360

[36] Xem Sulpicius Severus, Vita Sancti Martini, 3, 1-3: SCh 133, 256-258.

 

 

Thông điệp Thiên Chúa Là Tình Yêu (Deus caritas est)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *