Tình yêu hay Chân lí?

Một vài suy nghĩ về Tông thư của giáo tông Biển-đức XVI

Một tháng trưBild in hinh caritas in veri.rtfớc khi Vatican phổ biến Tông thư (lá thư luân lưu này tôi cũng gọi là „Thông điệp“, vì giáo tông Biển-đức muốn gởi tới cả người ngoài công giáo), nhà xuất bản Benno ở Đức đã quảng cáo nó, được in chung với những bài viết liên quan của một số nhân vật có tiếng tại Đức như nữ tu Jordana Schmidt, tu sĩ Justinus C. Pech, linh mục Anselm Grün, tổng giám mục Reinhard Marx, tổng giám mục Robert Zollitsch. Tôi đặt ngay, với hi vọng có được tài liệu trước khi nó chính thức ra mắt. Nhưng mãi tới tuần đầu tháng 8 sách mới tới.
Tập sách nho nhỏ, dày 200 trang, trông thật xinh. Tựa hàng chữ lớn: Tự Do và Trách Nhiệm. Với phụ đề: Những chỉ hướng trong thời đại khủng hoảng kinh tế. Hậu cảnh trên bìa là một thành phố với những cao ốc đốm sáng ánh đèn nhìn từ giữa một dòng sông chảy ngang qua thành phố, trong khi trên nền trời vẫn còn toả lên ánh sáng. Tôi chẳng để í gì tới đề tựa và cái hình bìa không bắt mắt đó. Chỉ muốn cố đọc cho mau để xem nội dung có gì mà thiên hạ cứ xôn xao từ nhiều tháng nay. Bản văn không khó đọc. Nhưng bề dày và sự phong phú của nó khiến tôi, sau khi lướt qua được một lượt, cứ lang mang không biết phải bắt đầu suy tư của mình từ đâu.
Í tưởng đầu tiên chợt đến: Tại sao Biển-đức lại tráo thứ tự công thức của thánh Phaolô „Veritas in caritate“ (Sự thật trong tình yêu) thành „Caritas in veritate“ (Tình yêu trong sự thật)? Thánh Phaolô khuyên tín hữu hãy tìm chân lí trong tình yêu, nghĩa là lấy tình yêu mà nhìn sự việc: độ lượng thứ tha, chín bỏ làm mười. Ngài bảo, nếu tôi có sức mạnh chuyển núi lấp sông mà thiếu đức Ái thì sức mạnh đó cũng vô nghĩa! Phương châm của thánh Phaolô đã trở thành căn cước của Kitô giáo. Và điều này Biển-đức đã long trọng minh xác trong tông thư đầu tay Thiên Chúa Là Tình Yêu của ngài. Và trong Tông thư về giáo huấn xã hội này, ngài cũng lập lại: „Tình yêu là con lộ chính của giáo huấn xã hội công giáo“. Có thể nói, Kitô giáo là tôn giáo „độc quyền“ Caritas, bởi vì chẳng ai hơn đức Giêsu Kitô về chủ trương Tình yêu vị tha (Agape), một tình yêu sẵn sàng chết cho tha nhân.
Như vậy, khi đặt veritas lên trước caritas, phải chăng Biển-đức muốn coi sự Thật quan trọng hơn Tình yêu? Có thể nói như kiểu trên đây của thánh Phaolô: Mọi việc tôi làm vì tình yêu mà không dựa trên sự Thật thì rốt cuộc cũng chỉ là phèng la chũm choẹ? Dĩ nhiên mọi hành động vì tình yêu tự nó đã có giá trị rồi. Nhưng yêu một bà mẹ quê cơm đùm cơm gói năm tháng ngồi ở lề đường khiếu kiện vì bị cướp mất đất và thương một „công an quần chúng tự phát“ cầm gậy phang vào đầu linh mục Phú ở Tam Toà hẳn không giống nhau. Kitô giáo dạy phải thương cả hai, vì trước hết họ đều là con người, đều có một nhân phẩm. Nhưng yêu tay quần chúng tự phát trong trường hợp này chẳng hợp sự thật gì cả. Cũng thế, yêu một nhà nước chuyên lo tạo công bằng xã hội cho dân thì khác với yêu một nhà nước không được cai trị bằng công lí, vì như thánh An-tịnh (Augustinus) nói và được giáo tông Biển-đức nhắc lại trong tông thư Deus caritas est (đoạn 28): Một nhà nước không được cai trị bằng công lí thì nhà nước đó có khác chi một băng thảo khấu (Remota itaque iustitia quid sunt regna nisi magna latrocinia)!
Đó là một khía cạnh. Nhưng khía cạnh sau đây, theo tôi, mới thực quan trọng hơn. Đó là quan niệm về Chân lí của Biển-đức. Chân lí là một chủ đề bản lề của cuộc đời ngài. Khẩu hiệu giám mục của gs. Ratzinger là ”Những người thợ của Chân lí”. Ngài muốn làm một anh mõ loan truyền Chân lí của Chúa. Hầu như trong bài viết quan trọng nào Biển-đức cũng kêu gọi con người hãy trở về với Chân lí đích thực, và ngài không ngừng chỉ trích chủ trương tương đối hoá Chân lí của thế giới khoa học kĩ thuật hiện nay. Công thức của thánh Phaolô, như vậy, vẫn là nền tảng. Nhưng đâu là lí do khiến Biển-đức muốn nhấn mạnh khái niệm Chân lí và Chân lí của ngài có nội dung ra sao? Để hiểu, chúng ta cần nhìn lại lịch sử biến chuyển tinh thần của nhân loại.

Có thể nói, tiến trình con người nhận thức về thực tại, cho tới nay, đã trải qua ba chặng trong giòng lịch sử: ma thuật, siêu hình và kĩ thuật. Bỏ qua giai đoạn ma thuật của thời hồng hoang, giai đoạn mà con người nhìn đâu cũng thấy hiện thân của thần thánh: tảng đá, cây cao, bóng đêm, sấm chớp. Bước sang giai đoạn siêu hình của thời Thượng cổ và Trung cổ ở phương tây, trong đó con người coi hữu thể hay mọi thực tại trong trời đất là chân thực, bởi vì chúng là sản phẩm của một Thiên Chúa thượng trí tạo ra. Vì được Thiên Chúa nghĩ ra và dựng nên, nên thực tại phản ảnh trí huệ của Thiên Chúa và vì thế chúng có í nghĩa, chúng có thực, nên chúng là chân lí. Trong chân trời suy tư như thế của Thượng và Trung cổ, tất cả những gì do con người nghĩ và làm ra, chỉ được coi là ”techne”, là kĩ thuật, nghĩa là thứ được nghĩ ra tiếp từ cái do Thiên Chúa tạo ra trước, và mang tính mong manh tạm thời).
Bước vào thời Mới, thời của óc duy lí, con người dần quay hướng hoàn toàn vào Kĩ thuật. Hãy nghe Biển-đức: ”Ngày nay, lối tiếp cận khoa học kĩ thuật hầu như hoàn toàn chi phối lên mối tương quan của chúng ta với thực tại, ảnh hưởng lên tâm thức cũng như xác định chỗ đứng của chúng ta trong thực tại; và điểm đặc trưng của lối tiếp cận này là dừng lại ở “hiện tượng”, dừng lại ở điều xuất hiện bên ngoài và có thể nắm bắt được. Người ta không còn muốn tìm kiếm bề sâu của sự vật, không còn muốn dò tìm yếu tính của thực tại; đối với con người thời nay, những tra vấn như thế là vô ích vì họ cho rằng, không bao giờ chúng ta có thể đạt tới tận nền tảng của hữu thể. Nhãn quan của chúng ta chỉ giới hạn ở tất cả những gì có thể thấy và đo lường được. Nền tảng của phương pháp thực nghiệm chính là việc giới hạn vào các hiện tượng như thế. Chỉ cần hiện tượng là đủ, bởi lẽ với hiện tượng, chúng ta có thể hành xử tùy theo ý mình và có thể nắn đúc một thế giới sống cho mình. Và như thế một quan niệm mới về chân lý và về thực tại đã dần dần hình thành trong tư tưởng cũng như trong cuộc sống thực tiễn của con người hiện đại, một quan niệm chi phối cách vô thức lên suy tư và lời lẽ của chúng ta”. (Joseph Ratzinger, Đức tin kitô giáo. Hôm qua và hôm nay. Bản dịch Việt ngữ 2009, tr. 64).
Từ đâu phát sinh ra cái nhìn thuần khoa học kĩ thuật đó? Ở đây, ta thấy hành trình tinh thần con người tuần tự bị đảo lộn qua hai bước.

Bước thứ nhất: Giai đoạn duy lịch sử.
Bước thứ nhất được Descartes chuẩn bị và được Kant hoàn chỉnh. Nhưng trước Descartes, nó đã nẩy mầm nơi triết gia người Í Giambattista Vico (tk. 18). Ông này đã đề ra một ý tưởng hoàn toàn mới về chân lý và về tri thức. Ông đã đưa ra một kiểu nói táo bạo và đã trở thành khuôn mẫu cho tư tưởng hiện đại liên quan đến vấn đề chân lý và thực tại. Thay vì coi hữu thể là chân lí, vì nó được Thiên Chúa làm ra, thì Vico tuyên bố ngược lại: Chân lí là cái do con người làm ra, bởi vì ta chỉ có thể hiểu được những gì do ta làm ra mà thôi. Có thể nói, công thức này đã chấm dứt lối tư duy siêu hình cũ và mở ra lối nhận thức đặc trưng của thời Mới. Như vậy, chiều kích Trời trong thực tại của thời siêu hình giờ đây được thay thế bằng chiều kích Người. Kỉ nguyên khoa học kĩ thuật bắt đầu từ đây.
Hãy nghe Biển-đức tiếp: ”Nhiệm vụ và khả năng của trí tuệ con người giờ đây không phải là suy tư về hữu thể nữa, mà là về Sự Kiện, về cái do mình làm ra, về thế giới riêng của con người, bởi lẽ đó mới là những gì con người có thể hiểu biết thực sự. Vũ trụ không do con người tạo nên, vì thế nó mãi mãi là bí ẩn. Con người chỉ có thể đạt tới cái tri thức trọn hảo và có thể chứng minh được trong phạm vi các giả thuyết toán học cũng như trong lãnh vực lịch sử mà thôi, là vì đó là lãnh vực do chính con người làm ra và do đó họ có thể hiểu được. Như vậy giờ đây “Sự kiện” lên ngôi thống trị, có nghĩa là con người từ nay hoàn toàn qui hướng về chính Công Trình của mình, vốn là sự kiện duy nhất mà con người có thể biết chắc.
Chính từ đây các giá trị bắt đầu bị đảo lộn, và một thời đại mới khai sinh. Trước kia lịch sử bị coi thường bởi không mang tính khoa học, thì giờ đây cùng với toán học, nó được tôn lên hàng khoa học đúng nghĩa. Trước kia, suy tư về ý nghĩa của hữu thể được xem là điều cao cả xứng với tinh thần tự do thì nay bị coi như công việc thừa thãi, vô vọng, không phải là tri thức đích thực. Như thế lịch sử và khoa toán học chiếm vị trí hàng đầu trong số các môn học. Thậm chí lịch sử trở thành khoa bao trùm tất cả các khoa học khác và do đó làm thay đổi chúng tận nền tảng (các tô đậm là do người viết). Với Hegel, triết học bị giản lược thành một vấn đề lịch sử… . Với F. Chr. Baur, thần học cũng trở thành lịch sử; nó sử dụng lối nghiên cứu chặt chẽ của lịch sử để hi vọng khám phá ra chân lí qua việc tìm hiểu những gì trước đây đã thực sự xẩy ra. Với Marx, nền kinh tế quốc dân phải được xem xét dựa vào quan điểm lịch sử; và ngay cả các khoa học tự nhiên cũng không thoát khỏi tầm ảnh hưởng của quan điểm lịch sử: Darwin cho rằng hệ thống các sinh vật phải được hiểu theo lịch sử tiến hóa của sự sống…
Kết quả là con người không còn khả năng nhìn vượt lên trên chính mình nữa, mà chỉ dừng lại ở bình diện sự kiện, ở đó rốt cuộc họ buộc phải nhìn nhận chính mình cũng chỉ là sản phẩm tình cờ của cuộc tiến hóa qua muôn vạn năm. Kết quả là con người rơi vào một tình thế hết sức đặc biệt: Chính khi đưa ra quan điểm qui-nhân triệt để nhất, theo đó con người chỉ có thể biết những gì mình làm ra, thì đó là lúc con người nhận ra mình cũng chỉ là một “Sự kiện”, một sản phẩm hoàn toàn tình cờ của tiến hóa. Con người như thể rơi từ quê hương trời cao xuống thế giới sự kiện của địa cầu – và với cuốc xẻng trong tay, họ vất vả đào bới xem đâu là lịch sử nguồn cội của mình.. (Sđd, tr. 68t)
Sử trở thành „in“, thành „mode“. Nó lên ngôi thống trị từ giữa thế kỉ 19. Phong trào phê bình mang tính lịch sử trong thần học kitô giáo cũng hồ hởi lên đường. Phong trào này chủ trương bóc hết nét thần thánh nơi đức Kitô để tìm về một Giêsu thuần lịch sử, để xem „nhà cách mạng“, vị „thuyết giảng lang thang“ này mang khuôn mặt như thế nào.
Nhưng rồi người ta sớm nhận ra rằng, chân lí của Sử cũng không phải là chân thực. Chân lí này vẫn hết sức hàm hồ và chủ quan, vì nó tùy thuộc vào cách thức tái tạo cũng như giải thích sự kiện vốn rất nghi nghĩa của từng người. Vì thế, đầu thế kỷ 20, khoa sử rơi vào khủng hoảng. Riêng trong thần học, người ta cũng thất vọng về kết quả bế tắc của họ trong việc tái tạo lại khuôn mặt lịch sử của đức Giêsu, là vì Tin Mừng chỉ quan tâm tới điều Người dạy chứ đâu có viết gì nhiều về thân thế của Người.

Bước thứ hai: Hướng đến tư duy kĩ thuật
Cái gì con người làm ra, cái đó là thật là phương châm dùng lịch sử để khám phá sự thật. Nhưng phương châm này còn phải được nối với một phương châm khác mới có thể phát huy tất cả tác dụng. Đó là phương châm nổi tiếng do Marx đưa ra: “Cho đến nay, các triết gia chỉ tìm cách giải thích thế giới; nhưng điều quan trọng là phải biến đổi nó”. Một cuộc cách mạng tư duy mới! Nói khác đi, chân lí không những nằm trong những gì do con người làm ra, nó không chỉ nằm nơi sự kiện lịch sử quá khứ; mà giờ đây, quan trọng hơn, nó nằm nơi những gì con người có thể tạo ra, nó nằm nơi tương lai, nơi khả năng biến đổi và cải tạo thế giới của con người.
Trên căn bản đó, con người hiện đại càng ngày càng xác tín vào kĩ thuật, bởi họ cho rằng, tiêu chuẩn của loại tri thức chắc chắn và đáng cậy không gì khác hơn là phương pháp của các khoa học tự nhiên. Họ cho rằng : Rốt cuộc, chỉ có thực nghiệm, nghĩa là điều có thể tái tạo lại như kiểu trong phòng thí nghiệm, mới cung cấp cho ta được những hiểu biết chắc chắn, tuyệt đối. Tóm lại, chân lí là những gì tuỳ thuộc nơi khả năng tác tạo của con người. Và kĩ thuật lên ngôi thống trị từ đấy. Trước đây, con người với cuốc xẻng trong tay, ra công đào bới lịch sử quá khứ mình để tìm chân lí, tìm í nghĩa cuộc đời. Giờ đây, họ vất luôn cuốc xẻng; con cháu nhà Hồ còn cả gan tuyên bố: với tay không họ „vắt đất thành cơm thay trời làm mưa“! Loại hẳn Trời. Mà cũng loại luôn người, bởi lẽ thứ người tay không vắt đất thành cơm ở đây là một chủng người đặc biệt, là thứ người „cộng sản“ hay „xã hội chủ nghĩa“ nào đó, chứ không phải là nhân loại thường.
Trong Giáo hội, môn thần học giải phóng cũng được khai sinh và phát động trong không khí „cải tạo“ thế giới đó. Nhờ bắt mạch cũng như nhận diện được những chặng đường biến chuyển tinh thần trên, nên hồng i Ratzinger đã kịp thời báo động về những bất cập của Thần học này. Khi ngài, với tư cách trưởng Bộ giáo lí đức tin, đưa ra những biện pháp hạn chế phong trào thần học này, rất nhiều giám mục đã không đồng í. Nhưng nay thì tất cả đã thấy được cái viễn kiến của vị Bộ trưởng thời đó.

Tóm lại, cái chân lí mà con người theo đuổi và chủ trương cũng chỉ là những mốt giai đoạn. Nó chỉ là một cái gì tương đối: Hết chân lí của sử đến chân lí của kĩ thuật. Hết „mặt trời chân lí“ Stalin „chói qua tim“ Tố Hữu đến hàng núi báo „Sự Thật“ của mồ ma Liên Bang Xô-viết. Rồi đây, thứ chân lí nào nữa sẽ đến, chúng ta chưa thấy được, nhưng dấu hiệu bế tắc của niềm tin tuyệt đối vào kĩ thuật thì đã rõ. Con người ngày nay chạy theo chân lí khoa học. Nhưng mỗi khoa học cũng chỉ nhìn được một mặt của thực tại. Đứng trước vùng đất đỏ ở Tây nguyên, nhà địa chất „thấy“ bô-xít; các nhà kinh tế của đảng cộng sản việt nam „nghe“ đô-la leng keng chảy vào các trương mục của họ bên trời Âu; các nhà khoa học trung cọng ngửi thấy mùi nhôm. Trong khi đó tương lai của dân tộc việt nam, hay cụ thể hơn, tương lai văn hoá của các sắc dân sống trong vùng Tây nguyên, thì chẳng nhà khoa học nào trên đây (chịu) nhìn ra cả, là vì đây là những yếu tố ngoài tầng „sự kiện“, không „mang tính kinh tế“ hay thuộc vùng „nhạy cảm“ không được nghĩ tới. Tắt lại, chúng nằm ngoài túi tham của lãnh đạo. Cũng vậy, giả thử giờ đây người ta đào được một lá thư tình của bà hoàng Kleopatra gởi cho ông hoàng Caesar. Các nhà cổ học sẽ dùng phóng xạ các-bon cho ta biết niên đại hình thành của bản văn. Các nhà ngữ học đủ loại cho ta biết về ngữ âm, ngữ cảnh, ngữ gốc, ngữ nghĩa… Các nhà sử sẽ phục hồi câu chuyện tình của ông bà hoàng. Nhưng dù các nhà khoa học mọi nghành có họp lại để đưa ra một kết quả chung, thì họ cũng không thể nói cho ta biết được nỗi lòng của Caesar khi đọc lá thư, hay tâm trạng thật của Kleopatra khi ngồi viết cho người tình. Nỗi lòng không thuộc tầng sự kiện, nên chẳng khoa học kĩ thuật nào nắm chắc được cả.

Sở dĩ tôi hơi dài dòng một chút trước hết là để chúng ta cùng hiểu lí do tại sao giáo tông Biển-đức đã muốn nhấn mạnh tới Chân lí trong Tông thư của ngài. Thứ nữa, qua việc chỉ ra tính tương đối của các loại chân lí của con người, đặc biệt thứ chân lí khập khễnh của khoa học kĩ thuật hiện tại, giáo tông kêu gọi con người hãy biết vượt lên trên chính mình, vượt lên trên lòng tham và khuynh hướng thực dụng để nhìn ra được tha nhân, nhìn ra được Chân lí đích thực và toàn diện. Hãy trả Trời về lại cho thực tại! Chân lí đích thực và toàn diện là loại Chân lí vừa có Trời lẫn người.
Ở cấp con người, Chân lí đích thực giúp ta nhận ra con người là một „linh ư vạn vật“ ngay từ lúc bắt đầu phôi thai cho tới lúc nhắm mắt, nên không thể huỷ hoại người bất kể ở giai đoạn nào. Con người vừa là sinh vật kinh tế (cần cơm ăn áo mặc), chính trị (cần tự do, công lí, bình đẳng), văn hoá (cần được học hành), xã hội (cần có nghề nghiệp để sống) và tinh thần (cần không gian tự do cho niềm tin, tôn giáo). Con người là chủ thể của tất cả những lãnh vực vừa kể, nên con người là tư bản cần phải được bảo vệ ngay từ đầu và phải được chăm sóc trước hết. Phát triển toàn diện con người là tạo mọi điều kiện trong mọi lãnh vực để làm sao cho nhân phẩm triển nở hầu con người vươn lên được với Trời. Chứ không phải như các chính quyền toàn trị và cộng sản hiện nay chỉ biết hết năm này đến năm khác khoa chiêng gõ mõ với „xoá đói giảm nghèo“ mà thôi.
Khi đã có một cái nhìn toàn diện về con người như thế, thì ở cấp tập thể, giữa các dân tộc hay quốc tế cũng vậy, Chân lí đích thực đòi buộc một chính sách đối xử đặt nền trên công lí và công ích. Công lí là mục tiêu của chính trị. Công ích là mục tiêu của kinh tế. Thiếu hai thứ này, chính quyền trở thành bọn thảo khấu, là nơi phát sinh và chỗ dựa cho đám «quần chúng tự phát», nạn phân biệt đối xử sẽ phát sinh, xã hội trở nên bất công và rối loạn, vì không còn pháp trị, không ai còn tin vào chính quyền. Thiếu hai thứ đó, độ lệch giàu nghèo trong xã hội và nạn tích tụ tư bản vào trong tay một đám quyền thế nẩy sinh và gia tăng. Thiếu hai thứ đó, không thể giải quyết được nạn bóc lột chủng tộc, nạn đói và bất công thế giới. Vì không đếm xỉa gì tới công lí và công ích nên lãnh đạo đảng cộng sản việt nam mới lì lợm và dã tâm bán tháo đất biển và an ninh phúc lợi của đất nước cho ngoại bang. Sở dĩ không nghĩ tới công lí và công ích là vì tham. Cũng vì tham và đua nhau chạy theo lợi nhuận bằng mọi giá nên các định chế kinh tế – tài chánh đã đưa thế giới vào khủng hoảng, đang đẩy hàng tỉ người trên thế giới vốn đã cùng khổ lại rơi vào túng quẫn, trong khi đó thì họ như kên kên tiếp tục chia nhau rỉa thịt. Một bản tin nhỏ trên báo cho hay, trong số hơn 170 tỉ mĩ-kim cứu cấp của 14 ngân hàng tại Hoa-kì nhận được từ chính phủ, thì đám quản trị cấp cao đã chia nhau 33 tỉ! Đạo đức (đặc biệt trong lãnh vực kinh tế và chính trị) là cái thiếu lớn nhất của con người trong thế giới kĩ thuật hôm nay, bởi lẽ họ coi chân lí là cái do họ làm ra và có thể làm ra. Thiếu đạo đức là vì thiếu Trời trong quan niệm chân lí, là vì người ta không công nhận một thẩm cấp định chuẩn siêu việt nào bên ngoài họ.
Đạo đức đi liền với trách nhiệm. Không đạo đức thì vô trách nhiệm. Tông thư của giáo tông Biển-đức, có thể nói tắt lại, là một tiếng kêu mời con người tự do hãy trở về với đạo đức, với trách nhiệm. Công lí là kết quả của hành động đạo đức. Công ích là kết quả của hành động trách nhiệm. Nhưng công lí và công ích, tuy mang tầm quan trọng quyết định cho cuộc sống chung, nhưng vẫn chưa đủ. Chúng cũng chỉ mới làm cho con người và thế giới trở nên tử tế với nhau, trở nên là những láng giềng hữu nghị kiểu „16 chữ vàng“ của hai đảng cộng sản việt và tàu, chứ chưa thuyết phục họ trở thành thật sự anh chị em „bốn bể một nhà“.
Muốn con người đối xử với nhau như anh chị em, muốn các dân tộc coi nhau tứ hải huynh đệ, thánh Phaolô bảo – và được Biển-đức nhắc lại: không thể không cần tới các giá trị Tin Mừng kitô giáo, không thể không cần tới một tinh thần bác ái nhưng không. Trong Tông thư, giáo tông Biển-đức nói «Thành Phố Con Người» sẽ trở nên thành «Thành Phố Thiên Chúa» (số 7), trong đó con người chung sống trong hoà bình, công lí, phúc lợi và tình thương. Đây không phải chỉ là một giấc mơ. Kitô giáo xác tín vào khả năng chuyển hoá này. Kinh Thánh nói về một „Giêrusalem mới“. Thánh Phaolô nói về một đại gia đình nhân loại của Thiên Chúa. Teilhard de Chardin nói về một đỉnh điểm tương lai Omega mà nhân loại đang đi về. Cách đây 40 năm giáo tông Biển-đức cũng đã kết thúc tác phẩm „Đức tin kitô giáo. Hôm qua và Hôm nay“ với niềm xác tín: „Thế giới sẽ được cứu rỗi – đó là xác tín luôn đỡ nâng kitô hữu và làm cho họ thấy con đường theo Chúa của họ là con đường đáng đi và đáng giá…“.
Đứng trước nền văn minh khoa học kĩ thuật mà nói chuyện kêu gọi tình thương để kiến tạo công lí và công ích thì xem ra thiếu thực tế. Có lẽ Karl Marx là người coi chủ trương của Kitô giáo đó là hoàn toàn không tưởng và đã chống lại nó quyết liệt nhất, đồng thời đã đưa ra một phương án thay thế ngược lại. Đó là phương án cướp đoạt và chém giết. Theo ông, chẳng có cách chi tạo công lí hữu hiệu và mau nhất bằng tiêu diệt giai cấp; chẳng có cách chi tạo công bằng hay nhất bằng truất hữu tài sản để cào bằng xã hội; công ích, tình yêu chỉ có khi vô sản diệt xong các thành phần xã hội khác. Phương sách của ông đưa ra cùng lúc với Kĩ thuật loại Trời để lên ngôi bá chủ, nên đã có không ít người theo. Nhưng, sau 70 năm nhìn lại, kết quả rất hữu hiệu và mau chóng của ông và của các học trò ưu tú của ông là một gia sản thật buồn với hàng trăm triệu nấm mồ và một nhân loại rỗng nát tinh thần.

Hãy trở lại với hình bìa cuốn sách. Thành phố với những cao ốc ở đây là Frankfurt, trung tâm tài chánh của Đức và của cả Âu châu. Trung tâm tài chánh thế giới này đang chìm vào bóng đêm vô định. Bóng đêm của cuộc khủng hoảng tài chánh. Thành phố rực ánh đèn. Nhưng ánh sáng của muôn triệu bóng điện vẫn không át nổi màu tím buồn của tương lai vô định. Dòng sông Mainz chảy qua thành phố cũng đậm màu tím tang thương, vắng lặng trôi không một bóng thuyền bè. Nhưng trong bóng tối bất định và nguy nan đó, vẫn còn ánh sáng toả lên bầu trời. Ánh hoàng hôn còn sót lại hay ánh bình minh đang tới? Ánh sáng ươm màu đỏ, màu của tình yêu. Có đèn sáng là còn sự sống. Có tình yêu là còn hi vọng. Trong khủng hoảng có cơ may. Tông thư cho hay, cuộc khủng hoảng hiện nay cũng là một cơ may giúp con người thức tỉnh, xét lại lối sống và cung cách hành động của mình. Hoàng hôn sẽ qua và bình minh sẽ tới. Bóng tối sẽ hết. Và màu đỏ tình yêu của bình minh sẽ tràn ngập thành phố và biến “Thành Phố Con Người“ trở thành „Thành Phố Thiên Chúa“.
Tôi thầm phục cô Ulrike Wetter, người thiết kế hình bìa. Với một chút pha trộn màu sắc vào một tấm ảnh thực, cô đã tóm tắt đầy đủ nội dung của cả Tông thư.

Augsburg, 15.08.09, ngày lễ Mẹ về Trời.

Giới thiệu thông điệp Tình Yêu Trong Chân Lí (Caritas in Veritate)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *