Một Nguồn Cội Bạo Lực Nơi Hồi Giáo

 

Chính Mô-ha-mét ra lệnh giết những người nói xấu mình. Cho tới hôm nay, nhiều giáo sĩ hồi giáo vẫn dựa vào đó để rao giảng. Vì thế, thế giới – và nhất là những nhà cải cách hồi giáo – còn phải đối diện với rất nhiều nguy hiểm.

 

Bài của Hamed Abdel-Samad

Die Zeit, số 3 ngày 15.01.2015

Người dịch: Phạm Hồng-Lam

 

Câu nói, cuộc khủng bố Charlie Hebdo ở Paris chẳng liên can gì tới đạo Islam, thật ra chẳng làm tín đồ hồi giáo hài lòng chút nào. Bởi lẽ trong tôn giáo này quả thật có những yếu tố hợp thức hoá hận thù và bạo lực. Cho tới nay chúng ta vẫn cố tình không nói đến những điểm này. Lúc thì người ta bảo, khủng bố hồi giáo xẩy ra là do chính sách hiếu chiến của phương Tây. Lúc lại bảo, đó là vì những người trẻ hồi giáo cảm thấy bị kì thị hoặc phải sống trong cảnh bần cùng xã hội. Nhưng đấy chỉ là những mùi nhùi giúp ngọn lửa lan nhanh hơn mà thôi. Gốc của ngọn lửa là do một yêu sách chính trị chứa đựng trong Kinh Coran và trong cuốn tiểu sử Mô-ha-mét và được hầu hết mọi trường phái hồi giáo hiện nay áp dụng: hễ nói xấu tiên tri Mô-ha-mét là bị án tử.

Charlie Hebdo, và trước đó Theo van Gogh (nhà báo hí hoạ ở Hoà-lan. Người dịch), không phải là những nạn nhân đầu tiên của khoa thần học bạo lực này. Nhiều tín đồ hồi giáo đã phải trả giá bằng chính sự sống, chẳng hạn Mahmud Taha (người Su-đan, năm 1985 bị treo cổ vì một tờ rơi chống lại luật Scharia), Faradscha Fauda (người Ai-cập, năm 1992 bị giết vì chỉ trích Scharia). Đặc biệt trong những năm qua có rất nhiều người ở Ả-rập Sau-đi và I-ran bị giết vì tôi „phỉ bàng“ hoặc „cải đạo“. Trong các nước hồi giáo khác, những ai chỉ trích đạo Hồi đều phải chịu những bản án nặng nề.

Kinh Coran nói gì về điểm này? Trong Kinh không có đoạn nào trực tiếp nói về án tử vì tội phỉ báng. Nhưng trong cuốn tiểu sử Mô-ha-mét có đầy dẫy truyện Mô-ha-mét ra lệnh giết những ai nói xấu mình. Người ta đọc được trong đó 40 trường hợp, trong đó có Al-Nadr ibn al-Harith, một học giả đồng thời với Mô-ha-mét. Trước đám đông dân chúng tụ họp ở Mekka, ông này đặt ra cho Mô-ha-mét ba câu hỏi: Ai là người ngủ gà ngủ gật ở Ê-phê-sô? Người đàn ông có hai sừng đó là ai? Và Hồn là gì? Mô-ha-mét bí câu trả lời. Mấy tuần sau, ông ta mang tới mấy câu Kinh đại khái như vầy: „Hồn hình thành bởi lệnh truyền của Thiên Chúa tôi; Người chỉ ban cho các ngươi một sự hiểu biết rất hạn chế“. Ibn al-Harith cười và bảo, Coran là một „bản chép các chuyện thần thoại“. Mô-ha-mét để bụng trả thù. Khi dẫn quân đánh chiếm Medina, ông bắt được 70 tù binh người Mekka, trong đó có Ibn al-Harith. Tất cả tù binh đều đựơc thả, sau khi nộp tiền phạt, duy chỉ có Ibn al-Harith và một người bạn bị Mô-ha-mét cho lệnh chặt đầu.

Những truyện như thế cũng có trong tuyển tập Hadith (sách kể những việc làm và lời nói của tiên tri Ma-hô-mét. Người dịch) của Abu Dawud: „Mô-ha-mét khám phá ra việc giết chết một người đàn bà trước nguyện đường của mình. Ông tra hỏi những tín hữu đang cầu nguyện. Một anh mù liền dơ tay, nói: „Tôi giết. Bà ta là nô lệ của tôi, tôi đã có với bà hai đứa con quý như ngọc. Nhưng hôm qua nó nói xấu ngài. Tôi bảo nó, không được phỉ báng ngài nữa, mà nó vẫn lặp lại điều đã nói. Tôi không chịu được, nên đã giết nó“. Mô-ha-mét liền trả lời: „Máu của con này đã đổ cách phải lẽ!“ Kinh hoàng ở đây không chỉ vì sự man rợ đối với một người đàn bà, mà còn vì bạo lực đã được tư nhân hóa. Ở đây, quyền ra án tử không còn là chuyện của riêng kẻ lãnh đạo nữa, mà mọi tín đồ hồi giáo đều có quyền đó.

Tháng sáu năm 2014, khi nghe tôi thuyết trình ở Kairo rằng, chủ nghĩa phát-xít hồi giáo đã bắt nguồn ngay từ Mô-ha-mét, một giáo sư đại học Al Azhar liền kêu gọi mọi người giết tôi, và ông đã trưng câu truyện bà nô lệ bị giết ra làm bằng cớ. Ta không được quên rằng, cuốn tiểu sử Mô-ha-mét chỉ được viết ra khoảng 200 năm sau khi ông mất, trong một giai đoạn nhiễu nhương, các phe phái hồi giáo kình chống nhau mạnh. Các lãnh đạo hồi giáo lúc đó tranh nhau vai trò thừa kế chính thức. Đó cũng là lúc xuất hiện tuyển tập Hadith, trong đó dạy rằng, phải tuân thủ ngay cả những lệnh bất công. Tín hữu nào chống lại đều bị quy tội „phỉ báng“ và bị giết.

Chuyện cải đạo cũng như vậy. Khi Mô-ha-mét vừa mới mất thì một vài bộ lạc ả-rập bỏ đạo và không chịu trả thuế cho giáo sĩ Abu Bakr nữa. Do đó mới có luật xử tử những ai bỏ đạo. Mục đích của luật là giúp giữ vững cộng đoàn hồi giáo lúc đó vốn còn non yếu. Về sau, từ thế kỉ thứ 9 tới 11, Hồi giáo ở Bagdad và Córdoba đã vững mạnh, luật này chẳng còn giá trị. Thời đó, các thi sĩ coi việc bỏ đạo là một mốt sống thời thượng. Nhưng trong thời các cuộc thập tự chinh sau đó, các nhà thần học lại áp dụng nó cách khắt khe. Cha đẻ của phái hồi giáo cực đoan Salafismus hiện nay, Ibn Taimijja, viết cả một cuốn sách „Vung Kiếm Chống Lại Những Kẻ Phỉ Báng Tiên Tri“, trong đó ông kê ra 250 trường hợp để biện minh cho việc phải tử hình ngay cả những ai cải tà quy chánh sau một lần chối đạo.

Cho tới nay, nhiều tín hữu hồi giáo tin rằng, ai phỉ báng vị Tiên Tri, kẻ đó tất phải lãnh án – nhưng án gì, thì các trường phái lại không đồng thuận. Các cơ quan truyền thông ả-rập tỏ ra hồ hởi khi hay tin cuộc khủng bố Charlie Hebdo. Ở Ả-rập Sau-đi, chỉ vài giờ sau đó, người ta lôi anh Raif Badawi, người viết Blog, ra đánh 50 trượng đầu tiên; vì một lời phê bình Mô-ha-mét trên Blog mình, anh phải lãnh án 10 năm tù và 1000 roi.

Như vậy, cuốn tiểu sử Mô-ha-mét trước sau vẫn là một phần luật pháp và đạo đức cho Hồi Giáo. Nếu tín đổ hồi giáo muốn có một cuộc sống đạo tự do, họ phải tương đối hoá những bản văn xưa cũ. Trong phạm vi cá nhân, nhiều người đã thực thi điều đó. Nhưng những giáo sĩ có quyền hành vẫn nằng nặc chống lại những cải cách, vì thế nỗ lực của những nhà cải cách rời rạc tới nay vẫn như trứng chọi lên tảng đá bảo căn hồi giáo.

 

Hamed Abdel Samad, 42 tuổi, nhà chính trị học và là con của một giáo sĩ hồi giáo. Trước đây, một thời ông đi theo tổ chức „Huynh Đệ Hồi Giáo“, nay đã bỏ. Cuốn sách mới nhất của ông: „Chủ Nghĩa Phát-xít Hồi Giáo“.

 

 

Một nguồn cội bạo lực nơi Hồi Giáo

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *