Đọc Muối Cho Đời

Dr. Trần Hoành

Một cuốn sách tuyệt vời  trình bầy những suy tư nền tảng và đức tin sắt đá của Joseph Ratzinger, đuơng kim giáo hoàng Benedictus XVI

Mấy ngày sau khi hồng y Joseph Ratzinger được bầu làm giáo hoàng, nhiều tiệm sách ở Đức dành ra một bàn lớn bầy la liệt những sách của ngài hoặc có liên quan tới ngài. Có ba cuốn đặc biệt đáng chú ý:  Einführung in das Christentum ( Dẫn nhập vào Kitô giáo) , Salz der Erde (Muối cho đời)Gott und  die Welt ( Thiên Chúa và thế giới). Cả ba cuốn đã được tái bản nhiều lần ở Đức và được dịch ra trên 20 thứ tiếng, phổ biến rộng rãi trên thế giới. Ở Việt Nam đã có bản dịch cuốn Muối cho đời mấy năm nay rồi, nhưng là bản dịch lậu, in và phổ biến chui, vì không có phép của nhà cầm quyền cộng sản. Vì không bám sát tình hình giáo hội công giáo Đức, nên tôi hơi ngạc nhiên trước thành công lớn của những cuốn sách này. Theo dõi qua loa trên báo chí hoặc nghe đài, lâu lâu thấy nhắc tới tên hồng y Ratzinger, nhưng toàn những tin và phê bình tiêu cực. Theo tiết lộ của ký giả Peter Seewald, tác gỉa cuốn sách  Benedikt XVI.  Ein Porträt aus der Nähe (Benedictus XVI.  Bức chân dung nhìn gần), có những nhà xuất bản từ chối in sách của hồng y Ratzinger, vì cho ngài là con người  phản động. Tiến sĩ Geissler, một chính khách tên tuổi người công giáo, từng là tổng thư ký đảng Dân Chủ Thiên Chúa Giáo, lên tiếng đòi hạ tầng công tác hồng y Ratzinger và đổi đi coi xứ ở miền quê . Trong những ngày hồng y đoàn họp công nghị bầu giáo hoàng, giới truyền thông Đức nêu tên tuổi một số hồng y có triển vọng được chọn làm giáo hoàng. Süddeutsche Zeitung, một nhật báo lớn ở Đức cũng đưa ra một danh sách, trong đó có tên hồng y Ratzinger, nhưng chua thêm nhận xét: nếu vị hồng y này đươc bầu làm giáo hoàng thì cả là một „đại nạn“ !

Tại sao có hai phản ứng đối nghịch này? Một đàng thiên hạ tìm đọc sách của ngài đến độ sách bán không kịp in, đàng khác lại có dư luận kình chống ngài khá gay gắt. Để giải tỏa thắc mắc này, không gì bằng tìm hiểu con người qua chính những cuốn sách của ngài. Càng đọc càng ngạc nhiên khám phá ra Joseph Ratzinger là một con người rất độc đáo với nhiều đặc tính đáng khâm phục. Nhưng điểm đáng chú ý nhất chính là tư tưởng của ngài, có thể toát lược như sau:

  1. Đức tin Kitô giáo được tóm gọn trong câu: Đức Kitô là Thiên Chúa. Chính Ngài lập nên giáo hội. Giáo hội của Ngài là nơi để phục vụ, chứ không phải để con người tranh dành hay thi thố quyền lực. Nền tảng của đức tin là lời Ngài được loan truyền trong giáo hội, chứ không phải những lý thuyết khác nhau của đầu óc con người nghĩ ra.
  2. Chỉ có thể thực sự hiểu Kitô giáo qua đức tin sống động, chứ không qua những diễn giải của khoa sử học, xã hội học hay phân tâm học.
  3. Tín hữu Kitô không phải là những người gây rối trên dương gian, nhưng chính thế gian cảm thấy bực tức , khi giáo hội thẳng thừng nói lên những gì là tội lỗi và đâu là ơn cứu độ.
  4. Kể từ sau công đồng Vatican II đã diễn ra một sự cởi mở quá trớn, thiếu cân nhắc trong giáo hội công giáo. Bởi thế giáo hội cần có sự phục hồi lành mạnh và tiến trình này đang diễn ra trong giáo hội rồi.

Những suy tư này rải rác trong cả ba cuốn sách nói trên. Dẫn nhập vào Kitô giáo là cuốn căn bản nhất. Đây là giáo trình giảng dậy tại đại học của vị giáo sư tương đối trẻ, được in thành sách, xuất bản lần đầu vào năm 1968. 300 trang sách dầy đặc những suy tư thần học và triết học thâm sâu về niềm tin, Thiên Chúa, đức Kitô và giáo hội. Tất cả  được trình bầy mạch lạc theo phương pháp giáo khoa, nhưng với từ ngữ và lối diễn tả thích hợp cho môi trường đại học và cho những đầu óc nghiên cứu ở trình độ cao. Nói thẳng ra là không mấy thích hợp để phổ biến rộng rãi cho đại chúng. Hai cuốn Muối cho đờiThiên Chúa và thế giới là kết qủa của hai cuộc đàm thoại nhiều ngày giữa ký gỉa Peter Seewald và hồng y Ratzinger, khi ngài là tổng trưởng bộ đức tin. Tuy hai cuốn sách đề tên tác giả Joseph Ratzinger, nhưng thực ra là do ký giả Peter Seewald viết lại mấy chục cuộn băng ghi âm những gì hồng y Ratzinger diễn tả, dĩ nhiên đã được ngài đọc lại và ưng thuận cho in. Cuộc đàm thoại vào năm 1995, khi ký gỉa Seewald đang còn trong tình trạng ly khai với giáo hội, được viết lại trong cuốn Muối cho đời. Tiếp đó cuốn Thiên Chúa và thế giới là kết qủa của  cuộc đàm thoại vào năm 1999, sau khi Seewald đã được cảm hóa bởi hồng y Ratzinger và xác tín sống đức tin công giáo. Trong hai cuốn sách này người đọc gặp lại những tư tưởng chính của Joseph Ratzinger đã được trình bầy cặn kẽ trước đây trong cuốn  Dẫn nhập vào Kitô giáo, nhưng dưới dạng đàm thoại, nên dễ đọc và được đại chúng đón nhận nồng nhiệt. Dĩ nhiên trong đó có nhiều suy tư liên quan tới những đề tài hiện đại và nóng bỏng trong giáo hội trước ngưỡng cửa ngàn năm thứ ba. Cuốn Thiên Chúa và thế giới có thể coi như một thủ bản giáo lý ở cấp cao. Cuốn Muối cho đời có lẽ là cuốn dễ đọc và được phổ biến rộng rãi hơn cả. Ngay sau khi xuất bản vào năm 1996, cuốn sách đã được liệt vào sổ bestseller suốt năm dài. Ở Đức, sách đã được hai nhà xuất bản tái bản tới lần thứ 8 và sách cũng đã được phát hành dưới dạng băng nghe CD. Dưới đây tôi chỉ muốn trình bầy rộng thêm về cuốn  sách này.

Cuốn sách gồm 300 trang , được chia thành bốn phần:

Nhập đề: Đức tin công giáo – Dấu chỉ và lời nói. 

Chuơng một:  Về  con người:

Gốc gác và ơn gọi.

Vị giáo sư trẻ.

Giám mục và hồng y.

Ngài tổng trưởng và đức giáo hoàng.

Tóm lược.

Chuơng hai: Những vấn đề của giáo hội công giáo:

Những lúng túng của Rôma.

Tình trạng giáo hội. Tình trạng ở Đức.

Những nguyên nhân suy tàn.

Lỗi lầm của giáo hội.

Điệp khúc những chỉ trích: Tín điều bất khả ngộ. Tin mừng thay tin dữ. Chúng tôi là dân Chúa. Uy quyền thiêng liêng và tình nghĩa anh chị em. Đời độc thân linh-mục. Ngừa thai. Phá thai. Tái hôn sau khi ly dị. Truyền chức cho phụ nữ.

Chương ba: Trước thềm thời đại mới:

Hai ngàn năm lịch sử ơn cứu độ mà vẫn chưa được cứu rỗi ?

Thanh tẩy. Buổi giao thời và những đe dọa rạn nứt.

“Mùa xuân mới cho tinh thần con người” trước ngàn năm thứ ba.

Những trọng điểm của sự phát triển giáo hội.

Giáo hội, nhà nước và xã hội : Đại kết và hiệp nhất. Hồi giáo. Do Thái giáo. Một công đồng mới?

Tương lai của giáo hội – Giáo hội của tương lai: Tìm lại điểm trung dung – Những viễn ảnh của giáo hội. “Sạch, sạch, sạch” – Cuộc cách mạng tâm linh. Giáo hội cống hiến những cơ may mới cho thế giới.

Lịch sử đích thực của thế gới: Thời gian viên mãn

Đọc qua cuốn sách độc giả có cái nhìn khá tổng quát về con người, tư tưởng và hành động của vị đương kim giáo hoàng. Điểm nổi bật nhất là niềm tin sắt đá của ngài. Tất cả suy tư của ngài khởi đi từ niềm tin này, mọi diễn giải đều dựa trên niềm tin này. Ngài đã có niềm tin ấy từ tuổi trẻ và vẫn trung thành với nó cho tới ngày nay. Độc giả gặp một con người uyên bác, đạo đức, khiêm nhượng , cởi mở, thành thực và cương quyết. Dưới đây xin độc giả theo dõi vài trích dẫn tiêu biểu.

Về con người:

– “Bận tâm với Chúa đối với tôi là một nhu cầu. Cũng như mỗi ngày ta phải thở, phải có ánh sáng…Nếu bỗng dưng không còn Chúa nữa thì tinh thần tôi sẽ khó thở”.

– “Khi học tiểu học tôi đã bắt đầu viết và làm thơ”.  “Nhạc của Mozart tới nay vẫn đánh động tận đáy hồn tôi…”.

 “Chưa bao giờ tôi khao khát lập gia đình. Nhưng dĩ nhiên tôi đã từng rung động trước tình bạn”..

– “Hồng y cũng yếu đuối như những người khác… ”.

– “Quyết định căn bản của tôi vẫn trước sau như một, đứng trong giáo hội tôi tin đức Kitô là  Thiên Chúa và cố gắng sống phù hợp với niềm tin này.  Quyết định đó đã triển nở qua các giai đoạn của cuộc đời và tôi mừng là nó chưa bao giờ bị đông lạnh…Tôi muốn trung thành với những gì tôi đã nhìn nhận là chính yếu, nhưng cũng cởi mở để nhận ra những thay đổi cần thiết”

Về đức tin :

”Tin là gốc rễ phát sinh sự sống, là quyết định nền tảng nhận biết Chúa và đón nhận Ngài. Nó là chìa khóa cắt nghĩa mọi thứ khác…Đức tin mở đường cho ta hiểu biết đúng về cuộc đời mình, về thế giới và về con người”.

– « Cốt lõi của đức tin là nhìn nhận đức Kitô là con Thiên Chúa, đấng hằng sống, đã nhận lấy xác thịt và làm người; chúng ta tin Chúa Ba Ngôi, đấng dựng nên trời đất, Ngài đã hạ mình xuống rất thấp để quan tâm tới con người, cùng con người làm nên lịch sử. Chúng ta tin rằng  lịch sử này được biểu lộ cách trổi vượt nơi giáo hội; giáo hội này không đơn thuần là một tổ chức của con người, mặc dù có nhiều yếu tố con người trong đó.  Bản chất của đức tin là sống với giáo hội và sống trong giáo hội, nơi mọi người cùng thấm nhuần và chia sẻ thánh kinh”.

–  Chúng ta tin rằng Chúa hiện hữu và Ngài tốt lành, rằng cuộc đời đáng sống, ta sinh ra làm người là một may mắn. Từ đó ta sẽ có can đảm vui sống, dấn thân làm cho kẻ khác cùng vui và đón nhận tin mừng”.

 “Đức tin (nếu không có lí trí) sẽ biến dạng, trở thành ý hệ phe nhóm , không dính dáng gì tới sự phó thác đầy tin tưởng vào Thiên Chúa, đấng hằng sống, nguồn gốc căn bản của đời sống và lý trí chúng ta. Lúc đó sẽ nảy ra nhữnh hình thức đạo đức bệnh hoạn, chẳng hạn như chạy tìm những cuộc hiện ra, những tín hiệu từ bên kia thế giới hay những thứ đại loại như thế”.

– “ bao nhiêu người thì bấy nhiêu con đường” dẫn tới Thiên Chúa.

Về văn hoá, môi sinh… :

– “Văn hoá (ngày nay là thứ văn hoá) vắng bóng siêu việt…Thiên Chuá không còn giá trị gì trong nền đạo lý của con người. Nếu Ngài hiện hữu thì Ngài cũng không liên quan gì tới con người”.

 “Ô nhiễm môi sinh bên ngoài là  sự trào ra của ô nhiễm môi sinh bên trong…Không phải chỉ thiên nhiên mới có những trật tự riêng và những sinh vật ta cần tôn trọng, nếu ta muốn sống nhờ thiên nhiên và trong thiên nhiên. Nhưng con người cũng là một loài thụ tạo và có những trật tự thụ tạo của nó…Nó phải lưu ý rằng cần có sự trong sạch tâm hồn…Nếu không hiểu yếu tố môi sinh căn bản này, tất cả những vấn đề khác sẽ tiếp tục xấu mãi”.

Về giáo hội, giáo chức:

– “Đây là Giáo hội của Chúa, chứ không phải nơi để các nhà thần học thử nghiệm… Không phải chúng ta nghĩ  ra Giáo hội như chúng ta muốn, nhưng chúng ta tin rằng Chúa muốn Giáo hội như vậy và chúng ta phải nhận biết ý Ngài và sẵn sàng phục vụ Giáo hội”.

– “Nếu việc thuộc về Giáo hội có một ý nghĩa thì ý nghĩa đó chính là Giáo hội cho ta đời sống vĩnh cửu và cuộc sống chân chính đích thực. Mọi thứ khác đều là thứ yếu”.

– “Giáo hội cần một cuộc cách mạng đức tin. Giáo hội không được phép liên kết với tinh thần thế tục, phải từ bỏ của cải vật chất để giữ lấy gia sản tinh thần”.

– Giáo hội cũng có lỗi lầm và phải thành thực nhận lỗi. Tôi thiết nghĩ thành thực là một nhân đức nền tảng, bởi chính qua đó chúng ta nhận ra rõ hơn đâu là giáo hội và đâu không phải là giáo hội. Trong ý nghĩa này sự thẳng thắn không che đậy những khía cạnh đen tối của lịch sử giáo hội là thái độ quan trọng để giáo hội nói lên sự thành tâm và trung thực của mình. Một thánh vịnh “sám hối” của giáo hội qủa thực cần thiết để giáo hội chứng tỏ mình thành thực trước mặt Thiên Chúa và trước mặt con người”

Quả thực có sự sa sút giữa lòng giáo hội , Kitô giáo còn đó trên hình thức, nhưng không được mấy ai sống thực…Không phải tất cả những ai mang danh Kitô hữu đều thực sự là Kitô hữu”. 

–  “Trọng tâm của đời sống ngày nay là những đổi mới kinh tế và xã hội. Ở đó, đặc biệt trong lãnh vực truyền thông giải trí, ngôn ngữ và cung cách hành xử của con người được qui định. Có thể nói đó là lãnh vực trung tâm của cuộc sống, có sức huy động ồ ạt những trào lưu quần chúng. Ở đó tôn giáo dĩ nhiên không biến mất, nhưng trôi dạt vào lãnh vực chủ quan… Rốt cuộc tôn giáo chỉ còn là một thành tố văn hóa. Nhưng đàng khác Kitô giáo cống hiến một mẫu mực sống mới mẻ đầy tình người trong sa mạc kỹ thuật. Điều này đang xẩy ra rồi… Tôi tin ngày nay có nhiều tín hữu thoát ra khỏi sự nhất trí kỳ lạ của thế giới hôm nay để thử nghiệm những hình thức sống mới. Dư luận quần chúng không đế ý tới họ, nhưng những gì họ thực hiện đang mở ra một tương lai”. 

– “Bản chất của giáo chức là phục vụ, cử hành các bí tích , dọn đường cho Chuá Kitô đến và loan truyền lời Ngài. Tất cả những thứ khác là phụ thuộc”. 

– « Giáo hội phải nói lên cái xấu, cái nguy của thời đại, phải nhắc nhở lương tâm những kẻ cầm quyền, những kẻ thờ ơ , hẹp hòi trước nỗi thống khổ của thời đại. Là giám mục tôi thấy có nghĩa vụ phải làm chuyện đó…Tôi nghe vang vọng bên tai những lời của Thánh kinh và của các giáo phụ kết án rất nghiêm khắc những mục tử làm chó câm để tránh bị phiền toái và vì thế để cho nọc độc lan tràn…Tôi ghê sợ hình ảnh một giám mục chỉ lo an phận và tìm hết cách che đậy và né tránh mọi thứ xung đột”.

– “ Chính cái can đảm nói lên sự thật là sức mạnh lớn của giáo hội, mặc dù lúc đầu nó có vẻ tác hại, làm mất vẻ dễ mến của giáo hội, đẩy giáo hội vào chỗ cô lập”. 

“Nếu chối bỏ sự thật sẽ chẳng giải quyết được gì, nhưng trái lại sẽ dẫn tới độc đoán…Con người sẽ tự tước bỏ phẩm giá mình, nếu không thể biết được sự thật, nếu tất cả chỉ là sản phẩm của một quyết định cá nhân hay tập thể”.

– “Giáo hội hôm nay không cần những nhà cải cách, nhưng những thánh nhân mới, biết tựa vào chính sức mạnh của đức tin mà tái khám phá kho tàng đức tin và tính bất khả nhượng của nó…Cái ta thực sự cần là những người được Kitô giáo “hút hồn”; họ sống Kitô giáo như nguồn hạnh phúc và hy vọng qua đó họ trở thành ngọn lửa tình yêu và ta gọi họ là thánh nhân”.

Về Công đồng Vatican II:

– « Người ta mong đợi một đà tiến tới, thì lại đứng trước một qúa trình suy thoái…Chúng ta không chứng kiến một thời điểm mới cho Kitô giáo, mà lại thấy nhiều đổ vỡ bên cạnh một số thành công…Tại sao? Thứ nhất, vì chúng ta đã hy vọng qúa nhiều. Chúng ta dĩ nhiên không thể tự tạo ra Giáo hội. Chúng ta có thể thi hành công việc của mình, nhưng thành bại không tùy ở hành động của ta. Những biến chuyển lớn trong lịch sử có hướng riêng của chúng, mà một số biến chuyển chúng ta không đánh gía đúng …Nhiều khi chúng ta chờ những điều không phải: ta muốn Giáo hội bành trướng rộng ra , nhưng thời điểm của giáo hội có thể lại không như thế.  Điểm thứ hai: giữa những điều các nghị phụ muốn và những điều quần chúng ghi nhận được qua truyền thông có một khác biệt đáng kể. Các nghị phụ muốn cập nhật hóa đức tin và qua đó cống hiến đức tin với tất cả sức mạnh của nó. Thay vì như vậy, người ta càng ngày càng có cảm tưởng rằng cải cách chỉ đơn thuần là trút đi những gánh nặng. Rốt cuộc cải cách không phải là sống đức tin cách triệt để, nhưng lại làm cho đức tin loãng ra”..

Công đồng thường tạo nên những xáo trộn; những xáo trộn này dĩ nhiên phải trở thành những liều thuốc bổ ích. Hiện thời chúng ta đang bận tâm giải quyết công đồng Vatican II”.

Đề tài trung tâm của Joseph Ratzinger sau đức tin là tình yêu . Ký gỉa  Peter Seewald đã khéo dành đề tài này để kết thúc cuộc đối thoại:

– “Đặc điểm của lịch sử là sự dằng co giữa yêu và không có khả năng yêu…Từ chỗ mất khả năng yêu sẽ sinh nỗi chán chuờng chết người. Nó là sự đầu độc con người. Nếu nó thắng thế, con người và thế giới cùng bị hủy diệt”.

– « Thiên Chúa muốn ta trở thành những kẻ yêu đương và như vậy trở nên giống Ngài. Bởi vì, như thánh Gioan diễn tả, Ngài là tình yêu, Ngài muốn có những thụ tạo giống Ngài và trở nên như Ngài trong tình yêu tự do, gắn bó với Ngài và như thế có thể nói là tỏa ra ánh sáng từ chính Ngài”.

Giới truyền thông đã nặn ra từ “hồng y thiết giáp” khi nói về Joseph Ratzinger, vì họ cho ngài là con người giáo điều cực đoan, cực kỳ bảo thủ và quá nghiêm khắc. Nhưng qua cuốn Muối cho đời ta có thể ví ngài như một chiếc xe du lịch hở mui; người trong xe cảm thấy mát mẻ, thông thoáng và có thể ngước mắt nhìn trời cao.

Muối cho đời (1) là một cuốn sách đáng đọc. Đọc để hiểu con người Ratzinger, để nếu có ca tụng ngài thì cũng không làm theo kiểu “mẹ hát, con khen hay”, hoặc nếu phê bình ngài thì cũng làm một việc đứng đắn, “nói có sách, mách có chứng”, chứ không hời hợt, máy móc lập lại những chỉ trích của dư luận nặng thành kiến. Nhưng đối với tín hữu Kitô cuốn sách đặc biệt nên đọc để học hỏi và trưởng thành trong đức tin, để vui tươi và cương quyết sống niềm tin của mình .

 

Trần Hoành Đọc Muối Cho Đời

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *